Bản án 56/2006/KDTM-ST ngày 23/02/2006 về việc tranh chấp kinh doanh thương mại

Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì bị đơn mới chỉ thanh toán được một phần tiền vốn gốc và lãi, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán ba kỳ liên tiếp. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 27, Điều 28 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 và các thỏa thuận trong hợp đồng giữa hai bên thì bên cho thuê có quyền chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước hạn, bên thuê phải thanh toán ngay số tiền còn lại cho bên cho thuê. Nếu bên thuê không thanh toán được tiền thuê, bên cho thuê có quyền thu hồi ngay tài sản cho thuê và bên thuê phải bồi thường thiệt hại vật chất cho bên thuê.

Xét yêu cầu thu hồi, phát mãi máy để thanh toán số nợ nói trên: yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 27, Điều 28 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 và Điều 27 Thông tư số 06/2005/TT-NHNN ngày 12/10/2005, nên cần được chấp nhận.

Xét yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp: việc thế chấp của các bên phù hợp với quy định pháp luật. Các bên đã tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng thủ tục. Như vậy, trong trường hợp sau khi thu hồi, xử lý tài sản thuê, nếu số tiền thu không đủ thanh toán số nợ, Công ty Cho thuê Tài chính Kexim Việt Nam có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 

BẢN ÁN 56/2006/KDTM-ST NGÀY 23/02/2006 VỀ VIỆC TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI 

Ngày 23 tháng 02 năm 2006 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/KTST ngày 14 tháng 6 năm 2005 về tranh chấp hợp đồng Cho thuê tài chính theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 415/QĐXX- ST ngày 25 tháng 01 năm 2006 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty cho thuê tài chính Kexim Việt Nam.

Địa chỉ: Lầu 09, Diamond Plaza, 34 Lê Duẩn, Q.1, Tp.HCM.

Đại diện: ông Lê Hữu Trí, Giấy ủy quyền ngày 24 tháng 6 năm 2005.

2. Bị đơn: Doanh nghiệp tư nhân sản xuất Thắng Lợi.

Địa chỉ: 122/11 Thoại Ngọc Hầu, P.18, Q. Tân Bình, Tp.HCM

Đại diện: Ông Đinh Nhâm- Chủ doanh nghiệp.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Đinh Nhâm

- Bà Lưu Thị Lộc

Cùng có địa chỉ: 113/54/6 đường TCH05, P.Tân Chánh Hiệp, Q.12, Tp.HCM

NHẬN THẤY

Trong đơn khởi kiện đề ngày 23/5/2005, đơn khởi kiện điều chỉnh ngày 28/62005, bản giải trình ngày 05/9/2005, bản giải trình ngày 16/11/2005, biên bản hoà giải ngày 30/8/2005 và tại phiên toà, nguyên đơn là Công ty cho thuê tài chính Kexim Việt Nam trình bày: ngày 18/02/2004 Công ty cho thuê tài chính Kexim Việt Nam và DNTN SX Thắng Lợi có ký hợp đồng cho thuê tài chính số K2004014 với nội dung: Công ty cho thuê tài chính Kexim Việt Nam cho DNTN SX Thắng Lợi thuê một máy thêu vi tính loại 330MM X 550MM, 9 màu, 20 đầu, Model SWF/C WE920-55, xuất xứ Hàn Quốc, giá trị 50.000 USD. Thời hạn thuê: 60 tháng (bao gồm 3 tháng ân hạn). Ngày bắt đầu thuê: 25/7/2004. Giá trị thuê: 51.996,24 USD. Lãi suất thuê/ năm: LIBOR (3 tháng) + 2,4%.

Lịch thanh toán tiền thuê: DNTN Thắng Lợi sẽ thanh toán tiền thuê hàng tháng và thời điểm thanh toán lần đầu tiên thuê là ngày 25/8/2004.

Giá trị còn lại của tài sản thuê: 0,5%/ năm tính trên giá trị thuê. Giá trị còn lại của tài sản thuê sẽ là giá mua lại tài sản thuê của bên thuê.

Giá trị tổn thất thỏa thuận: bao gồm tổng số tiền thuê chưa thanh toán phải trả kể cả lãi quá hạn và giá trị còn lại của tài sản thuê và các khoản phải trả khác theo Hợp đồng thuê. Việc xác định giá trị tổn thất thỏa thuận trong hợp đồng thuê là nhằm xác lập trước các nguyên tắc tính bồi thường trong trường hợp bên thuê có vi phạm hợp đồng thuê.

Quyền kiểm tra tài sản thuê: Điều 19 của các điều khoản và điều kiện chung (biểu 4) xác định: bên thuê sẽ cho phép bên cho thuê, vào bất kỳ thời điểm nào, được quyền tiếp cận nơi đang có tài sản thuê để kiểm tra, đánh giá tình trạng của tài sản thuê.

Mức lãi suất quá hạn do không thanh toán đúng hạn các khoản tiền tới hạn thanh toán: Điều 6.2 Hợp đồng thuê quy định: “trường hợp bên thuê không thanh toán đúng thời hạn, bên thuê sẽ phải trả tiền lãi quá hạn, với mức lãi suất bằng 1,5 lần mức lãi suất thông thường (LIBOR (03 tháng) + 2,4%) tính trên số ngày thực tế chậm thanh toán kể từ ngày đến hạn phải thanh toán cho đến ngày thực tế thanh toán”.

Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng thuê bao gồm:

- Bên thuê ký qũi bảo đảm bằng tiền đồng Việt Nam tương đương 10% giá trị thuê vào tài khoản của nguyên đơn;

- Để bảo đảm cho việc thanh toán tiền thuê và các khoản tiền lãi theo Hợp Đồng Thuê số K2004014, Ông Đinh Nhâm và Bà Lưu Thị Lộc đã đồng ý thế chấp căn nhà số 113/54/6 Đường TCH05, Phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Tp.HCM bằng việc ký Hợp Đồng Thế Chấp số K2004014-MA ngày 18/02/2004. Việc thế chấp căn nhà nói trên đã được đăng ký tại UBND Phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Tp.HCM ngày 25/02/2004.

Thực hiện hợp đồng:

DNTN Thắng Lợi đã ký quĩ vào ngày 01/3/2004 là 78.820.000 đồng tương đương 5.000 USD.

Nguyên đơn đã thực hiện việc giao tài sản vào ngày 13/3/2004. Công ty Kexim Việt Nam đã đăng ký tài sản cho thuê tài chính theo đúng quy định của pháp luật và được Chi nhánh đăng ký giao dịch – tài sản tại Tp.HCM, thuộc Cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm cấp giấy chứng nhận số B040300031TC01 ngày 04/3/2004.

Sau khi thanh toán tiền thuê được 04 tháng, DNTN Thắng Lợi đã không tiếp tục thanh toán tiền thuê cho Công ty chúng tôi từ tháng 12/2004 đến nay. Tới thời điểm ngày 25/4/2005, DNTN Thắng Lợi đã không thanh toán 05 đợt liên tiếp với tổng số tiền đã tới hạn thanh toán là 4.612,34 USD. Cụ thể như sau:

Ngày thanh toán

Tiền vốn gốc

(USD)

Thuế GTGT

(USD)

Tiền lãi

(USD)

Tổng cộng

(USD)

25-12-2004

156,94

0

0

156,94

25-01-2005

910

2,5

202,14

1.114,64

25-02-2005

910

2,5

204,31

1.116,81

25-03-2005

910

2,5

187,65

1.100,15

25-04-2005

910

2,5

211,30

1.123,80

TỔNG CỘNG

4.612,34

DNTN Thắng Lợi cũng không cho phép chúng tôi vào xưởng sản xuất tại số 122/11 Thoại Ngọc Hầu, Phường 18, Quận Tân Bình, TP HCM để kiểm tra tài sản thuê.

Theo quy định tại Điều 23 Các Điều Khoản và Điều Kiện Chung (Biểu 4) của Hợp Đồng Thuê, việc DNTN Thắng Lợi không thanh toán Tiền Thuê và không cho phép Công ty chúng tôi tiếp cận để kiểm tra tài sản thuê là những hành vi vi phạm Hợp Đồng Thuê.

Theo quy định tại khoản 23.2 các điều khoản và điều kiện chung (biểu 4) của hợp đồng thuê, khi xảy ra các trường hợp vi phạm hợp đồng thuê của bên thuê, công ty chúng tôi có quyền thực hiện toàn bộ hay một trong các hành động sau:

Tuyên bố rằng các phần hay toàn bộ Tiền Thuê còn nợ trong Thời Hạn Thuê và tất cả các chi phí và phí tổn phát sinh liên quan đến Hợp Đồng Thuê đều đã đến hạn thanh toán;

Yêu cầu DNTN Thắng Lợi ngay lập tức ngưng sử dụng tài sản thuê;

Yêu cầu DNTN Thắng Lợi hoàn trả ngay lập tức tài sản thuê cho Bên Cho Thuê;

Chấm dứt Hợp đồng thuê. Yêu cầu DNTN Sản Xuất Thắng Lợi thanh toán số tiền 46.514,74 Đô la Mỹ, tương đương 738.747.160 đồng (tính theo tỷ giá 15.882 đồng/USD, là tỷ giá của thị trường ngoại tệ bình quân liên ngân hàng ngày 21/02/2006) và 26.268.000 đồng, bao gồm:

Giá trị tổn thất thỏa thuận vào ngày 16/5/2005: 43.782,17 USD;

Tiền phạt do chậm thanh toán tiền vốn gốc đến hạn: 2.732,57 USD. Khoản tiền phạt được tính từ ngày 17/5/2005 cho đến ngày 23/02/2006 (276 ngày). Đây là mức tiền phạt được tính trên nợ gốc (42.736,53 USD) với mức lãi suất bằng 150% lãi suất được quy định trong Hợp Đồng Thuê (LIBOR (3 tháng) + 2,4%, tương đương 5,56%/năm). Cụ thể như sau:

42.736,53 USD x 5,56% x 150% x 276 /360 ngày = 2.732,57 USD

Tiền bồi thường cho chi phí thuê luật sư giải quyết vụ kiện: 26.268.000 đồng

Yêu cầu thu hồi, phát mãi máy thêu vi tính loại 330MM X 550MM, 9 màu, 20 đầu, Model SWF/C WE920-55, xuất xứ Hàn Quốc hiện do DNTN Thắng Lợi do ông Đinh Nhâm làm chủ quản lý để ở điạ chỉ 122/11 Thoại Ngọc Hầu , P. Phú Thọ Hòa, Q. Tân Phú, TP. HCM, đồng thời phát mãi tài sản thế chấp để thanh toán số nợ nói trên.

Tại bản tự khai ngày 11/7/2005, tờ trình ngày 30/8/2005, biên bản hòa giải ngày 30/8/2005, ngày 16/11/2005, bị đơn trình bày: vào khoảng tháng 2/2004, DNTN Thắng Lợi có ký Hợp đồng số K2004014-MA với công ty Cho thuê tài chính Kexim với nội dung mua máy thêu trả dần, trị giá hợp đồng là 50.000 USD.

Khoảng cuối quý 4/2004 và đầu quý 1/2005 doanh nghiệp chúng tôi gia công hàng chưa thanh toán tiền kịp dẫn đến có chậm trễ thanh toán với công ty Kexim, thời gian chậm thanh toán là 45 ngày. Ngày 15/03/2005 trong lúc chủ doanh nghiệp đi vắng, công ty Kexim kết hợp với công ty Sunstar xông vào doanh nghiệp chúng tôi và tháo board máy đem về (có biên bản ghi nhận). Từ ngày 15/3/2005 doanh nghiệp chúng tôi ngưng đóng tiền vì máy ngưng hoạt động. Yêu cầu công ty Kexim bồi thường 99.660.000 đồng là tiền mà doanh nghiệp chúng tôi đã phải bồi thường cho cơ sở may Việt Đức do không có máy để thực hiện hợp đồng gia công số 01/TL-VĐ ngày 10/3/2005. Đề nghị trả lại máy cho Kexim, Kexim phải hoàn trả lại số tiền doanh nghiệp Thắng Lợi đã đóng cho Kexim.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Đinh Nhâm trình bày: Tôi và vợ tôi có thế chấp căn nhà số 113/54/6 Đường TCH05, Phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Tp.HCM. DNTN Thắng Lợi đã thực hiện đúng hợp đồng, đã thanh toán được 16.060 USD.

Bà Lưu Thị Lộc: Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, nhiều lần triệu tập làm việc, hoà giải và dự phiên toà nhưng đều vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày và xác nhận của các đương sự trước Tòa,

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ giữa Công ty Cho thuê Tài chính Kexim Việt Nam và DNTN Thắng Lợi do ông Đinh Nhâm làm chủ là quan hệ kinh doanh thương mại giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh, các bên đã không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục Tòa án. Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết theo thủ tục án kinh tế là phù hợp với quy định của pháp luật về thẩm quyền được qui định tại các điều 29, 34, 35 Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Toà án đã triệu tập hoà giải vào các ngày 12/8/05, 30/8/05, 16/11/05, 5/12/05 và 9/12/05 nhưng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Lưu Thị Lộc đều vắng mặt, vì vậy việc hoà giải không thể tiến hành được.

Toà án đã triệu tập hợp lệ bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng tại phiên toà vào ngày 20/01/06 và ngày 23/02/06 nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không lý do. Nguyên đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 200 và Điều 215 Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về các yêu cầu của các đương sự:

- Xét các yêu cầu của nguyên đơn: theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì bị đơn đã ký quỹ 78.820.000 đồng và thanh toán được 6.018,92 USD bao gồm tiền vốn gốc 4.393,06 USD, thuế giá trị gia tăng 12,5 USD, lãi 1.613,36 USD. Căn cứ “lịch trình thanh toán tiền thuê” kèm theo hợp đồng thì bị đơn mới chỉ thanh toán được một phần tiền vốn gốc và lãi của kỳ thanh toán thứ 8 (thanh toán vào ngày 25/12/2004) như vậy tính đến ngày 15/3/2005 thì bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán ba kỳ liên tiếp. Bị đơn cho rằng đã thanh toán được số tiền 16.060 USD và chỉ vi phạm nghĩa vụ thanh toán 30 ngày nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh số tiền đã thanh toán. Theo các chứng từ do bị đơn cung cấp thì bị đơn mới chỉ thanh toán được số tiền 6.018,92 USD như đã nói trên.

Về biên bản ngày 15/3/2005: theo trình bày của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì ông Tường Tuấn Linh chỉ có quyền kiểm tra máy móc, không có thẩm quyền ký kết các văn bản có nội dung thay đổi, bổ sung hợp đồng. Vì vậy, các nội dung cam kết nhận lại máy, hoàn trả tiền cho DNTN Thắng Lợi không có giá trị pháp lý để xem xét.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 27, Điều 28 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 và các thỏa thuận trong hợp đồng giữa hai bên thì bên cho thuê có quyền chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước hạn, bên thuê phải thanh toán ngay số tiền còn lại cho bên cho thuê. Nếu bên thuê không thanh toán được tiền thuê, bên cho thuê có quyền thu hồi ngay tài sản cho thuê và bên thuê phải bồi thường thiệt hại vật chất cho bên thuê.

Do không thanh toán được các khoản tiền thuê đến hạn, ngày 16/05/2005 công ty Cho thuê Tài chính Kexim đã có văn bản thông báo chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn. Như vậy, thời điểm chấm dứt hợp đồng là ngày 16/05/2005.

Căn cứ hai hoá đơn số 002886 ngày 30/6/2004 và hoá đơn số 002013 ngày 29/12/2005 thì nguyên đơn đã trừ 2.744.179 đồng vào số tiền đã ký quỹ của bị đơn. Việc trừ tiền ký quỹ này phù hợp với thỏa thuận tại Điều 12 Hợp đồng. Như vậy số tiền ký quỹ còn lại của bị đơn là 76.075.821 đồng.

Các yêu cầu về giá trị tổn thất thỏa thuận 43.782,17 USD và lãi phạt do chậm thanh toán tiền vốn gốc 2.732,57 USD của nguyên đơn được tính toán phù hợp với quy định pháp luật và đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng, cần được chấp nhận.

Về tiền bồi thường chi phí thuê luật sư giải quyết vụ kiện 26.268.000 đồng yêu cầu chi phí luật sư của nguyên đơn phù hợp với thỏa thuận tại Điều 23.2.j “Các điều khoản và điều kiện chung” (Biểu 4) kèm theo Hợp đồng và quy định tại khoản 2 Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự, cần được chấp nhận.

Sau khi trừ khoản tiền ký quỹ số tiền bị đơn phải thanh toán là 46.514,74 USD tương đương 738.747.160 đồng và 26.268.000 đồng. tổng cộng 765.015.160 đồng.

Xét yêu cầu thu hồi, phát mãi máy để thanh toán số nợ nói trên: yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 27, Điều 28 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 và Điều 27 Thông tư số 06/2005/TT-NHNN ngày 12/10/2005, nên cần được chấp nhận.

Xét yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp: việc thế chấp của các bên phù hợp với quy định pháp luật. Các bên đã tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng thủ tục. Như vậy, trong trường hợp sau khi thu hồi, xử lý tài sản thuê, nếu số tiền thu không đủ thanh toán số nợ, Công ty Cho thuê Tài chính Kexim Việt Nam có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là căn nhà số 113/54/6 Đường TCH05, Phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Tp.HCM để thu hồi nợ.

Xét các yêu cầu phản tố của bị đơn: Toà án đã có thông báo nộp tiền tạm ứng án phí nhưng bị đơn không nộp tiền, vì vậy Toà án không xem xét. Mặt khác, như đã nhận định trên, bị đơn là người có lỗi, vi phạm hợp đồng. Các yêu cầu phản tố của bị đơn không có cơ sở để chấp nhận

3. Về án phí: DNTN Thắng Lợi do ông Đinh Nhâm làm chủ phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 15 và khoản 1 Điều 19 Nghị định 70-CP ngày 14-6-1997 của Chính Phủ, tính trên số tiền phải thanh toán. Tiền án phí là: 23.300.000 đồng.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 29,34, 35, 144, 176, 177, 178, 202, 238 Bộ Luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 359 Bộ luật dân sự ;

Căn cứ khoản 1 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 15 và khoản 1 Điều 19 Nghị định 70-CP ngày 14-6-1997 của Chính Phủ;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn

Buộc bị đơn DNTN Thắng Lợi do ông Đinh Nhâm làm chủ phải thanh toán cho Công ty Cho thuê Tài chính Kexim Việt Nam số tiền 765.015.160 đồng.

Thu hồi, phát mãi tài sản thuê là máy thêu vi tính loại 330MM X 550MM, 9 màu, 20 đầu, Model SWF/C WE920-55, xuất xứ Hàn Quốc hiện do DNTN Thắng Lợi do ông Đinh Nhâm làm chủ quản lý để ở điạ chỉ 122/11 Thoại Ngọc Hầu , P. Phú thọ Hòa, Q. Tân Phú, TP. HCM để thanh toán khoản tiền còn thiếu.

Trong trường hợp sau khi thu hồi, xử lý tài sản thuê, nếu số tiền thu không đủ thanh toán số nợ, Công ty Cho thuê Tài chính Kexim Việt Nam có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là căn nhà số 113/54/6 Đường TCH05, Phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, Tp.HCM để thu hồi nợ.

2. Về án phí:

DNTN Thắng Lợi do ông Đinh Nhâm làm chủ phải chịu án phí sơ thẩm là 23.300.000 (hai mươi ba triệu ba trăm ngàn) đồng, nộp tại Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.

Công ty Cho thuê tài chính Kexim Việt Nam được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 11.470.000 (mười một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 005010 ngày 07/6/2005 của Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án./.


271
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về