Bản án 56/2017/DS-ST ngày 02/08/2017 về tranh chấp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 56/2017/DS-ST NGÀY 02/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HỤI

Ngày 02/8/2017 tại phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 76/2017/TLST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2017 về việc “Tranh chấp hụi”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2017/QĐST-DS ngày 16/6/2017. Giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1958. (có mặt)

Nơi cư trú: khu phố 4, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn: Bà Nguyễn Mỹ H, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Nơi cư trú: khu phố 4, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Bảo Q, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre (văn bản ủy quyền ngày 03/7/2017).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/3/2017, bản tự khai cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị S trình bày:

Do quen biết, bà có tham gia 02 dây hụi do bà Nguyễn Mỹ H làm chủ hụi.

Dây hụi 1.000.000 đồng khui ngày 01/7/2016 (âm lịch), bà đóng cho bà H được 18 phần số tiền là 11.700.000 đồng

Dây hụi 1.000.000 đồng khui ngày 20/8/2016 (âm lịch), bà đóng cho bà H được 04 phần số tiền là 2.800.000 đồng.

Đến khoảng tháng 12/2016 thì bà H ngưng hụi, bà H nợ bà số tiền 2 dây hụi đã đóng, tổng số tiền là 14.500.000đồng. Bà đã nhiều lần yêu cầu bà H phải hoàn trả cho bà số tiền trên nhưng bà H hẹn nhiều lần mà không trả, bà H có làm giấy xác nhận ghi lại số tiền bà H còn nợ bà, số tiền 14.500.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị S yêu cầu bà Nguyễn Mỹ H phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà số tiền 14.500.000đồng, không yêu cầu tính lãi. Việc giao dịch hụi giữa bà với bà H chồng bà H là ông Nguyễn Ngọc C không có liên quan nên bà không yêu cầu ông C phải có trách nhiệm cùng trả nợ.

Bị đơn bà Nguyễn Mỹ H ủy quyền cho anh Nguyễn Bảo Q nhưng anh Q vắng mặt tại phiên tòa nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp: Do quan hệ quen biết bà Nguyễn Thị S và bà Nguyễn Mỹ H có giao kết với nhau tổng cộng 02 dây hụi. Đến khoảng cuối tháng 12 năm 2016, bà H ngưng hụi, bà H có làm giấy tay xác nhận còn nợ bà S số tiền 14.500.000 đồng. Bà H không thực hiện đúng thỏa thuận là có nghĩa vụ hoàn lại cho bà S số tiền trên, bà S khởi kiện yêu cầu bà H phải hoàn trả số tiền hụi bà đã đóng cho bà H, yêu cầu khởi kiện của bà S là tranh chấp hụi được xem xét theo quy định tại Điều 479 Bộ luật dân sự năm 2005, Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ và khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Bà Nguyễn Mỹ H và người đại diện ủy quyền anh Nguyễn Bảo Q đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2, nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Mỹ H và anh Nguyễn Bảo Q.

[3] Nội dung tranh chấp: Theo lời khai của nguyên đơn tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị S và bà Nguyễn Mỹ H có giao dịch 02 dây hụi, tổng số tiền bà Nguyễn Mỹ H nợ bà Nguyễn Thị S là 14.500.000 đồng theo tờ giấy xác nhận nợ.

[4] Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị S về việc yêu cầu bà Nguyễn Mỹ H trả số tiền hụi còn nợ là 14.500.000 đồng, chứng cứ bà S yêu cầu bà H trả số tiền trên là 01 tờ giấy có nội dung “H thối vốn hụi cho chị S số tiền 14.500.000”.

Xét về hình thức, tờ giấy viết tay do bà Nguyễn Thị S cung cấp và theo lời khai của bà S thì tờ giấy này do bà H viết, Hội đồng xét thấy, về hình thức giao dịch của hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 124 Bộ luật dân sự 2005.

Về nội dung, theo lời khai vì bà S không rành chữ nghĩa nên bà H viết sau thì bà nghe vậy, bà H không ghi rõ ngày tháng năm bà cũng không biết, nhưng bà hiểu là tờ giấy này có nội dung thể hiện bà H thối lại cho bà số tiền bà đã đóng cho bà H là 14.500.000 đồng, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định giao dịch giữa bà Nguyễn Thị S và bà Nguyễn Mỹ H là có thật, nội dung hai bên giao kết không trái với quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ, thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; các thông báo kết quả phiên họp và công khai chứng cứ do bà Nguyễn Thị S cung cấp. Nhưng bà Nguyễn Mỹ H không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S cũng như không có yêu cầu phản tố. Căn cứ khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có cơ sở chấp nhận lời khai, và tờ giấy viết tay mà bà S cung cấp là chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hợp pháp của bà S.

Hội đồng xét xử xét thấy, bà Nguyễn Mỹ H đã xác nhận các khoản nợ hụi và đồng ý thoái vốn cho bà S thì phải có nghĩa vụ thanh toán nợ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 29 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006.

Ghi nhận bà Nguyễn Thị S không yêu cầu tính lãi đối với số tiền hụi bà Nguyễn Mỹ H còn nợ.

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị S không yêu cầu ông Nguyễn Ngọc C có trách nhiệm liên đới với bà Nguyễn Mỹ H trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên Hội đồng xét xử không xét đến trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với ông C theo quy định tại Điều 27 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Bà Nguyễn Mỹ H vắng mặt tại phiên tòa nên không thể đối chất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị S, bà H phải chịu mọi hậu quả pháp lý của việc vắng mặt.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà S được chấp nhận nên bà không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Mỹ H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền có nghĩa vụ hoàn trả là: 725.000 đồng theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 688 và Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 122, 124, 479 và 290 Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Cụ thể tuyên:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S.

Buộc bà Nguyễn Mỹ H có nghĩa vụ hoàn trả cho Nguyễn Thị S số tiền hụi là 14.500.000 (mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Nguyễn Mỹ H phải nộp 725.000 đồng (Bảy trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí 362.500 đồng (ba trăm sáu hai ngàn năm trăm đồng) cho bà Nguyễn Thị S theo biên lai thu số 0010346 ngày 17/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


49
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về