Bản án 56/2017/HNGĐ-PT ngày 20/12/2017 về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 56/2017/HNGĐ-PT NGÀY 20/12/2017 VỀ YÊU CẦU THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU LY HÔN

Ngày 20 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2017/TLPT-HNGĐ ngày 30/10/2017 về việc “Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2017/QĐPT-HNGĐ ngày 28/11/2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:Anh Ngô Phương B, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Khu dân cư X1, ấp X2, xã X3, huyện X4, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn:Chị Huỳnh Thị Ngọc T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Khu dân cư Y1, ấp Y2, xã Y3, huyện X4, tỉnh Đồng Nai.

- Người kháng cáo: Anh Ngô Phương B, sinh năm: 1977 – Nguyên đơn.

 (Anh B và chị T có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Ngô Phương B và chị Huỳnh Thị Ngọc T đã ly hôn theo Bản án số 13/2017/HNGĐ-ST ngày 19/4/2016 của Tòa án nhân dân huyện X4 và Bản án phúc thẩm số 25/2016/HNGĐ-PT Ngày 27/7/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai . Theo bản án phúc thẩm đã tuyên giao chau Ngô Long V, sinh ngày 08/02/2012 cho chị T được trực tiếp chăm sóc , nuôi dưỡng , tạm thời anh B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Theo anh B, trong năm 2015 và 2016, nhiều lần anh đến thăm cháu V thì chị T và gia đình ngăn cản không cho thăm con chung.

Sau khi ly hôn, gia đình chị T ngăn cản không cho anh vào thăm con, anh báo cáo với các cơ quan chức năng, được Công an xa Y3 xác nhận 3 lân (vào các tháng 9/2016, tháng 11/2016, tháng 01/2017). Chị T đã vi phạm quyền bình đẳng của cha mẹ đối với con cái, vi phạm luật hôn nhân và gia đình, không tôn trọng quyền thăm nom con của ông là vi phạm pháp luật.

Nhiều lần, anh gưi quà bánh cho cháu V thông qua những người đồng nghiệp cùng công tác cung trường với chị T nhưng đều bi từ chối . Chị T không cho anh điện thoại nói chuyện với cháu V.

Anh có khả năng kinh tế, có đủ điều kiện để đảm bảo cuộc sống tốt hơn cho cháu V. Chị T tuy là giáo viên nhưng phải đi làm cách nhà 25km, không trực tiếp đưa đón con đi học. Còn anh thì có điều kiện chăm sóc cháu V tốt hơn như cơ quan anh công tác gần trường học, điều kiện kinh tế anh khá hơn chị T...

Với mong muốn cháu V có đủ điều kiện để phát triển mọi mặt về tinh thần và thể chất, anh B yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con chung. Cụ thể: Giao cho anh được trực tiếp nuôi cháu Ngô Long V, sinh ngày 08/02/2012, anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.

Theo chị T,việc anh B khai chị cản trở việc thăm nom con chung là hoàn toàn không đúng sự thật. Bản thân chị và gia đình luôn chấp hành đúng quy định về đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và phán quyết tại Bản án số 25/2016/HNGĐ-PTngày 27/7/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Từ ngày ly hôn và đưa con về nhà ngoại sống đến nay, anh B không hề yêu thương, quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho con chung. Chỉ có duy nhất 01 lần vào thăm con nhưng do không báo trước nên chị không có ở nhà. Sau đó, anh B có báo với Trưởng ấp hay ban Phụ nữ ấp hay không thì chị không biết nhưng cho đến nay chị chưa từng được đại diện Ban ấp hay Phụ nữ ấp mời can thiệp về việc thăm nuôi con. Ban ấp và Phụ nữ ấp cũng đã xác nhận cho chị theo đơn xin xác nhận ngày 22/02/2017. Chị cũng chưa từng ngăn cản anh B vào thăm con, tại buổi làm việc ngày 21/02/2017 chị đã đề nghị anh B đưa con về bên nội vào ngàychủ nhật hàng tuần nhưng anh B không đồng ý. Những bằng chứng anh B cho rằng chị ngăn cản quyền thăm con là vào thời điểm trước khi chị và anh B được Tòa án giải quyết cho ly hôn (trước tháng 7/2016) và việc này là không đúng sự thật nên Tòa án đã bác bỏ lời khai này của anh B.

Tại bản án sơ thẩm số 39/2017/HNGĐ-ST ngày 07/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện X4 áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 28; Điều 68; khoản 1 Điều 228; Điều 220; Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 2, Điều 69, 70, 71, 72, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 39 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ – UBNTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Phương B về việc xin thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Ngô Long V, sinh ngày 08/02/2012. Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 21/9/2017, anh B có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu được thay đổi quyền nuôi con.

-Quan điểm của đại diện Viên kiểm sát nhân dântỉnh Đồng Nai:

Việc tuân theo quy định pháp luật của các đương sự, Thẩm phán và của Hội đồng xét xử: Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm là đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

- Về đường lối giải quyết vụ án:

Việc anh B cho rằng chị T không đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho cháu V nhưng thực tế chị T và gia đình chị T đã chăm sóc, nuôi dạy rất chu đáo, đảm bảo cho cháu V có điều kiện phát triển tốt, được thể hiện qua biên bản xác minh của chính quyền địa phương và trường mầm non Y3, huyện X4 nơi cháu V đang sinh sống, học tập và giấy khám sức khỏe ngày 28/8/2017 của Bệnh viện đa khoa khu vực X4.

Kháng cáo của anh Ngô Phương B yêu cầu được nuôi con chung là không có căn cứ chấp nhận. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Ngô Phương B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Ngô Phương B làm trong hạn luật định, đã đóng tạm ứng án phí nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

 [2] Về quan hệ pháp luật: Anh Ngô Phương B có đơn “yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, do đó cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật.

 [3] Xét kháng cáo của anh Ngô Phương B về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Ngô Long V để anh được trực tiếp nuôi dưỡng:

Hồ sơ thể hiện: Trong quá trình nuôi dưỡng cháu V, mặc dù chị T đi làm xa nhà (25 km), không trực tiếp đưa đón con đi học nhưng có sự trợ giúp của người thân là ông Huỳnh X5 (cha chị T) và chị Huỳnh Thị Ngọc T2 (chị gái của chị T) nên cháu V vẫn được đưa đón đi học bình thường. Chị T là giáo viên, có thu nhập ổn định, chị vẫn là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V. Do vậy, cháu V được đi học và được chăm sóc đầy đủ về mặt vật chất và tinh thần.

Tại các biên bản xác minh ngày 12/7/2017, ngày 28/9/2017 và giấy khám sức khỏe số 873/17/GKSK-BV ngày 28/8/2017 của Bệnh viện đa khoa khu vực X4 (bút lục số 137, 186, 197, 198) đã xác định việc chị T cùng gia đình chăm sóc tốt cho cháu V, sức khỏe của cháu phát triển bình thường.Căn cứ Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:“…Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con...”. Từ những phân tích trên cho thấy, chị T đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, đảm bảo việc học hành đối với cháu V. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh B về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung là có cơ sở, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh B và giữ nguyên án sơ thẩm.

 [4] Về việc anh B cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét các chứng cứ quan trọng do anh cung cấp để chứng minh việc bà T và gia đình đã ngăn cản quyền trực tiếp thăm con của ông trong nhiều năm, làm ảnh hưởng đến tình cảm cha con thiêng liêng của ông với cháu V.

Chị T thừa nhận có một vài lần từ chối không cho anh B đến thăm cháu V là do anh B đến vào ban đêm và có uống rượu (bút lục 147, 148). Tại các biên bản xác minh của Trưởng ấp và hàng xóm của bà T xác định thời điểm từ khoảng giữa năm 2016 đến nay (tức là sau khi có bản án ly hôn có hiệu lực) anh B không báo gì về việc đến thăm con hoặc bị gia đình chị T ngăn cản khi thăm con (bút lục 119). Do vậy, lời trình bày của anh B không có cơ sở xem xét.

 [5] Về án phí:

-Án phí sơ thẩm: Yêu cầu của anh B không được chấp nhận nên anh B phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng.

-Án phí phúc thẩm: Kháng cáo của anh B không được chấp nhận nên anh B phải chịu án phí phúc thẩmlà 300.000 đồng

 [6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Ngô Phương B; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 39/2017/HNGĐ-ST ngày 07/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện X4.

- Áp dụng các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBNTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu của anh Ngô Phương B về việc thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Ngô Long V,sinh ngày 08/02/2012.

Tiếp tục giao cháu Ngô Long V, sinh ngày 08/02/2012 cho chị Huỳnh Thị Ngọc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Vì lợi ích của trẻ, khi có yêu cầu của các đương sựhoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Về án phí:

+ Án phí sơ thẩm: Anh Ngô Phương B phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 001209 ngày 07/02/2017của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X4.

+ Án phí phúc thẩm: Anh Ngô Phương B phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 004388 ngày 02/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X4.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


68
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về