Bản án 56/2017/HSPT ngày 18/12/2017 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 56/2017/HSPT NGÀY 18/12/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Hôm nay, ngày 18 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 165/2017/HSPT ngày 06 tháng 11 năm 2017, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

Bị cáo có kháng cáo là:

Nguyễn Văn H, sinh ngày 08/9/1999; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã L, thị xã C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1973; con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Anh Nguyễn Văn L, sinh ngày 04/7/1999;

Trú tại: Tân Hương, xã Thái Bảo, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

Trong vụ án này còn có bị cáo Nguyễn Văn T có kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện G và Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện G thì nội dung vụ án như sau:

Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T là bạn và cùng làm nhân viên tại quán Karaoke Rubi ở thôn Từ Phong, xã Cách Bi, huyện Quế Võ. Trưa ngày 26/02/2017, H cùng T đến ăn cơm tại nhà anh Nguyễn Đức Tân ở thôn Vạn Ty, xã Thái Bảo, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, H sử dụng điện thoại di động Nokia 2700C-2 để vào facbook với nick là Còm Em, thì thấy có nick facebook là Đinh Quốc L đăng lên dòng trạng thái nick Còm Em của H với nội dung thách thức đánh nhau với H. H kiểm tra thì xác định đó là nick của anh Nguyễn Văn L (bạn của T) nên H đã đưa điện thoại cho T. T dùng điện thoại của H nhắn vào facebook của anh L, bảo L đến nhà anh Tân để nói chuyện. Khoảng 5 đến 10 phút sau, khi H đang đứng ở nhà Tân thì thấy anh L đi xe mô tô chở sau là anh Nguyễn Bá Viên (bạn của anh L) đến. Khi gặp H, Viên nói: “bảo ra, bây giờ thế nào”, H trả lời: “thế nào cũng được” rồi H chạy vào trong nhà anh Tân nói với T: “hai thằng đó đang ngồi ngoài cửa rồi”. Thấy vậy, T cùng H đi ra cửa nhà Tân thì thấy L đang ngồi ở bậc thềm nhà bên cạnh. T nói: “chúng mày định như thế nào” rồi chạy tới vị trí L đang ngồi, dùng tay trái đấm vào vùng đầu và mặt của anh L, anh L cũng lao vào đánh trả lại T thì được anh Viên vào can ngăn kéo T ra chỗ khác. Cùng lúc đó H vào trong gian nhà ngang của nhà anh Tân rồi lấy 01 con dao bầu có chuôi bằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng sắt màu đen, rồi cầm bằng tay phải chạy ra. Khi thấy T và anh L vẫn đang giằng co xô đẩy nhau, H lao vào dùng chân trái đạp vào vùng thắt lưng bên trái của anh L, sau đó dùng tay phải cầm dao bầu đâm 01 nhát trúng vào vùng thắt lưng bên phải của anh L, Thấy vậy, Viên lao vào đạp H ra làm H bị ngã nên Viên giằng được con dao từ trên tay phải của H. Còn T tiếp tục dùng hai tay nhặt một viên gạch bê tông ở rìa đường giơ lên định ném về phía anh L nhưng bị mọi người vào can ngăn nên T không ném được mà rơi viên gạch xuống đường, T vẫn tiếp tục lao tới để tấn công L song lại bị mọi người can ngăn, đẩy vào trong nhà nên T không tấn công được L nữa. Sau đó, anh L được mọi người đưa đi cấp cứu còn H và T bắt xe về quán.

Ngày 26/02/2017, Nguyễn Văn L nhập viện đa khoa huyện G đến ngày 02/3/2017, L chuyển viện lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh.

Tại giấy chứng nhận thương tích số: 232/CN-BVGB ngày 30/3/2017 của Bệnh viện đa khoa huyện G xác định tình trạng thương tích của Nguyễn Văn L như sau:

+ Vết thương vùng thắt lưng phải, vết thương phần mềm kích thước 10cm, sâu 5 - 6cm (theo dõi vết thương thấu bụng);

+ Vùng má trái, vết thương ngoài da kích thước 15cm.

Tại giấy chứng nhận thương tích ban đầu số: 29/CN ngày 23/3/2017 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh xác định tình trạng thương tích của anh Nguyễn Văn L như sau: Vết thương thắt lưng bên phải dài 10cm đã được khâu lại, hơi nề đỏ. Dẫn lưu ra dịch màu đỏ. Nghi ngờ rách cơ lưng phải.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 1511/C54-TT1 ngày 10/4/2017 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành thương tích đối với anh L như sau:

Đối với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn L:

+ Sẹo nông vùng góc hàm trái: 1% (Mục 1, Phần I, Chương 9).

+ Sẹo vết thương vùng thắt lưng phải: 3% (Mục 1, Phần I, Chương 9).

+ Sẹo dẫn lưu vùng thắt lưng phải: 1% (Mục 1, Phần I, Chương 9).

+ Tổn thương cực dưới thận phải: 8% (Mục 1.1, Phần I, Chương 6).

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích quy định tại Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn L tại thời điểm giám định là: 13%.

Cơ chế hình thành thương tích của anh Nguyễn Văn L:

+ Sẹo vùng góc hàm trái do vật cứng có tiết diện hẹp gây nên.

+ Sẹo vùng thắt lưng phải do vật sắc nhọn gây nên.

+ Con dao gửi giám định có thể gây được các tổn thương trên.

Quá trình điều tra, gia đình H đã bồi thường cho anh L 30.000.000 đồng. Gia đình T đã nộp 20.000.000 đồng tại cơ quan thi hành án dân sự để bồi thường cho anh L và trực tiếp bồi thường cho anh L số tiền 5.000.000 đồng.

Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện G đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 69, điều 74 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Xử phạt Nguyễn Văn H 15 tháng tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt 24 tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Văn T, tuyên trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/9/2017, bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi phạm tội còn là người chưa thành niên, nhận thức xã hội và pháp luật còn hạn chế, gia đình đã bồi thường cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

Người bị hại là anh Nguyễn Văn Lực tại phiên tòa xác nhận bị cáo H khai trung thực diễn biến vụ án và chấp nhận lời xin lỗi của bị cáo H, anh Lực xác nhận hiện đã khỏe mạnh hoàn toàn không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Anh Lực cũng xác nhận đã có lỗi khi gây sự với bị cáo H và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo H không phải chấp hành hình phạt tù như đơn đề nghị ngày 16/12/2017 của bố anh là Nguyễn Văn C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã phân tích nội dung vụ án, đánh giá hành vi phạm tội cùng nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H nộp trong thời hạn luật định là hợp lệ được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Ngày 26/02/2017, Nguyễn Văn H cùng Nguyễn Văn T đã có hành vi đấm, đá và dùng dao bầu đâm vào vùng thắt lưng bên phải của anh Nguyễn Văn L. Hành vi của T, H làm anh L bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%. Do vậy, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương và tạo tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử phạt nghiêm minh để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Nguyễn Văn H có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu khi chưa đủ 18 tuổi, độ tuổi tâm, sinh lý còn bồng bột, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Mặc dù là người gây thương tích chính cho anh Nguyễn Văn L nhưng hành vi của bị cáo gây hậu quả ít nghiêm trọng và người bị hại là anh Lực cũng có một phần lỗi khi tự nhiên gây sự, thách thức đánh nhau với bị cáo. Sau khi phạm tội, bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa phúc thẩm, bố đẻ của người bị hại là ông Nguyễn Văn C và người bị hại tiếp tục xin cho bị cáo không phải chịu hình phạt tù nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, chỉ cần giáo dục, cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục và răn đe bị cáo trở thành công dân có ích.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên.

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, sửa một phần bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 69, điều 74; Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã L, thị xã C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn H thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


57
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về