Bản án 56/2017/HSST ngày 08/11/2017 về tội trộm cắp tài sản

 TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 56/2017/HSST NGÀY 08/11/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 11 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Y tỉnh Nam Định, mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2017/HSST, ngày 03 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên Bùi Văn Đ - Sinh ngày 1995 tại huyện L, tỉnh Hòa Bình; trú tại: Xóm G, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 7/12; con ông Bùi Văn T (đã chết) và bà Bùi Thị L; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/7/2017 đến ngày 03/8/2017 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Nam Định.

Người bị hại: Anh Vũ Đình T - Sinh năm 1983.

Chị Đinh Thị H - Sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định.

Tại phiên toà: Có mặt bị cáo; vắng mặt người bị hại.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Nam Định truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 2 giờ ngày 27/7/2017, Bùi Văn Đ đi qua nhà anh Vũ Đình T thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Đ đi vòng ra lối cửa nách ở bên phải nhà anh T, dùng tay đẩy chốt cửa (do trước đây Đ làm và ở nhà anh T). Sau khi đẩy được chốt cửa, Đ vào phòng làm việc của anh T lấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu vàng và 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh bỏ vào túi quần rồi vào phòng ngủ của vợ chồng anh T lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng. Đ đi ra lán thấy 01 xe máy Honda Dream BKS 18D1-096.86, trong giỏ xe có chùm chìa khóa, sau khi mở được khóa điện Đ dắt xe ra ngoài rồi đi về nhà ở xóm G, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình ngủ. Sáng ngày 27/7/2017, Đ mang điện thoại Iphone 5S ra quán sửa chữa điện thoại hiệu “Hoàng Phúc” do anh Phạm Văn T2 sinh năm 1993 ở xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình làm chủ và bảo anh T2 phá hộ mã khóa do không nhớ mật khẩu. Sau đó Đ đến nhà anh Bùi Văn L ở xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình hỏi mượn anh L 2.000.000đ và gửi chiếc xe máy cho anh L và bảo sẽ ra lấy sau, rồi đi về.

Sáng ngày 27/7/2017, gia đình anh T phát hiện kẻ gian đột nhập vào nhà trộm cắp tài sản nên đã làm đơn trình báo Công an huyện Y.

Quá trình điều tra thu thập chứng cứ thấy có căn cứ xác định đối tượng Bùi Văn Đ trú tại xóm G, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình đã đột nhập vào nhà anh T trộm cắp tài sản nên Công an huyện Y đã ra lệnh bắt và khám xét khẩn cấp đối với Bùi Văn Đ. Kết quả thu giữ của Bùi Văn Đ 01 điện thoại di động hiệu Sam sung Code màu trắng; 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh, Đ khai nhận là hai điện thoại mà Đ đã trộm cắp của gia đình anh Vũ Đình T, ngoài ra còn thu giữ của Bùi Văn Đ số tiền 980.000đ, Đ khai nhận là tiền vay của anh Bùi Văn L.

Cùng ngày, Công an huyện Y tiến hành thu giữ 01 xe máy nhãn hiệu Dream BKS 18D1-096.86 do anh Bùi Văn L tự nguyện giao nộp; thu giữ 01 điện thoại di động Iphone 5S màu vàng do anh Phạm Văn T2 giao nộp.

Ngày 28/7/2017, Hội đồng định giá tài sản huyện Y đã tiến hành định giá và kết luận: Giá trị chiếc xe máy Dream BKS: 18D1-096.86 là 8.000.000đ; 01 điện thoại di động Iphone 5S màu vàng là 2.000.000đ; 01 điện thoại di động Sam sung Code màu trắng là 1.000.000đ; 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh là 150.000đ. Tổng giá trị hiện tại của các tài sản trên là 11.150.000đ.

Quá trình điều tra xác định: 01 xe máy Dream BKS: 18D1-096.86; 01 điện thoại di động Iphone 5S màu vàng; 01 điện thoại di động Sam sung Code màu trắng; 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh là tài sản của vợ chồng anh Vũ Đình T và chị Đinh Thị H, ngày 04/8/2017 Công an huyện Y đã trả lại cho chủ sở hữu; anh T và chị H không yêu cầu gì thêm.

Đối với số tiền 980.000đ thu giữ của Bùi Văn Đ xác định là tiền do anh Bùi Văn L cho Đ vay để tiêu sài cá nhân, không phải là vật chứng vụ án nên ngày 20/9/2017 Công an huyện Ý Yên đã trả lại cho Đ.

Bản Cáo trạng số 51/Ctr-VKS.HS ngày 03/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Nam Định truy tố bị can Bùi Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bùi Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản Cáo trạng số 51/Ctr-VKS.HS ngày 03/10/2017 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm h, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ từ 15 đến 18 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại đủ tài sản và không có yêu cầu gì thêm, vì vậy không đề cập giải quyết.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại.

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 02 giờ, ngày 27 tháng 7 năm 2017 tại gia đình anh Vũ Đình T - Sinh năm 1983 trú tại: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định. Lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của gia đình anh T; Bùi Văn Đ đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe máy Honda Dream BKS: 18D1-096.86  trị giá 8.000.000đ; 01 điện thoại di động Iphone 5S màu vàng trị giá 2.000.000đ; 01 điện thoại di động Sam sung Code màu trắng trị giá 1.000.000đ; 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh trị giá 150.000đ. Tổng trị giá của các tài sản trên là 11.150.000đ.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Nhưng do tham lam, tư lợi; để có tiền thỏa mãn cho những nhu cầu không chính đáng của bản thân; bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Nam Định truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm h, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung

Hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do thu nhập không ổn định, vì vậyHội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhân lại đủ tài sản và không có yêu cầu gì thêm, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 231, 233 và 234 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm h, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ 28/7/2017.

3. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 56/2017/HSST ngày 08/11/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:56/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện ý Yên - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/11/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về