Bản án 56/2018/DS-ST ngày 10/04/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B C, THÀNH PHỐ H

BẢN ÁN 56/2018/DS-ST NGÀY 10/04/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 10 tháng 04 năm 2018 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện B C xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 435/2017/TLST-DS ngày 14 tháng 07 năm 2017 về "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2018/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2018/QĐST-DS ngày 19 tháng 03 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC)

Địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà Ree, số 9 đường Đoàn Văn Bơ, Phường X, Quận X, Thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô B G – Chủ tịch Hội đồng thành viên

Người đại diện hợp pháp của ông Lô Bằng Giang:

Ông Lê Hiền T – Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý – Trung tâm thu hồi nợ

- Khối quản trị rủi ro - Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V.

Là người đại diện theo ủy quyền.

Người đại diện hợp pháp của ông Lê Hiền T:

Ông Trần T K

Địa chỉ: Nhà số E2/36B, đường Tân Túc, Thị Trấn T T, huyện B C, Thành phố H.

Là người đại diện theo ủy quyền.

Bị đơn: Ông Nguyễn H M, sinh năm 1970

Địa chỉ: Nhà số D10/15A, tổ 10 ấp 4, xã B C, huyện B C, Thành phố H

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) có ông Trần T K là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Theo nội dung “Đơn đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng” số 0676711 ký ngày 09/09/2015 giữa Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) với ông Nguyễn H M thì ông Nguyễn H M có đề nghị vay và đã được Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) chấp thuận cho vay. Cụ thể như sau:

+ Loại hình vay: Vay tín chấp tiêu dùng cá nhân để mua sắm dụng cụ gia đình.

+ Số tiền vay: 15.825.000 đồng

+ Lãi suất thỏa thuận 3,75 %/tháng

Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì ông Minh có trách nhiệm thanh toán số tiền 21.275.000 đồng (Hai mươi mốt triệu hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) gồm cả gốc và lãi, trả chậm liên tiếp trong thời hạn 15 (Mười lăm) tháng, 14 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 1.399.000 đồng (Một triệu ba trăm chín mươi chín ngàn đồng), tháng cuối cùng trả 1.689.000 đồng (Một triệu sáu trăm tám mươi chín ngàn đồng). Thời gian bắt đầu trả tiền là ngày 01/11/2015.

Thực hiện hợp đồng trên, ông M đã nhận đủ số tiền tiêu dùng cá nhân và đã thanh toán cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam TV (VPB FC) được một kỳ với tổng số tiền là 1.411.000 đồng (Một triệu bốn trăm mười một ngàn đồng).

Do ông M không thanh toán số tiền còn lại Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) đã tiến hành khởi kiện ông Nguyễn Hoàng Minh tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh yêu cầu ông nguyễn H M thanh lý hợp đồng trả cho Ngân hàng một lần số tiền nợ còn lại: 21.275.000 đồng – 1.411.000 đồng = 19.864.000 đồng (Mười chín triệu tám trăm sáu mươi bống ngàn đồng) trong đó tiền gốc còn lại là 15.197.469 đồng và tiền lãi là 4.666.531 đồng.

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 04/11/2015 thì Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn H M thanh lý hợp đồng trả một lần cho Công ty toàn bộ số tiền 19.864.000 đồng (Mười chín triệu tám trăm sáu mươi bốn ngàn đồng).

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) có ông Trần T K là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Trong quá trình giải quyết vụ kiện, ông M đã thanh toán thêm 2.500.000 đồng cho khoản nợ trên. Nên nay tổng số tiền Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn H M phải thanh toán là: 19.864.000 đồng – 2.500.000 đồng = 17.364.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm sáu mươi bống ngàn đồng); yêu cầu trả một lần ngày sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn H M vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông Nguyễn H M.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B C phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn H M trả lại số tiền vay là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Nguyễn H M cư trú tại huyện Bình Chánh, căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

[2] Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng mời ông Nguyễn H M đến Tòa án để tham gia phiên tòa giải quyết vụ án nhưng ông Nguyễn H M vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn H M theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Ông Nguyễn H M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án nên ông Nguyễn H M đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Ông Nguyễn H M phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của người đại diện hợp pháp của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án làm chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án.

[4] Tại khoản 1 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có quy định:

"Khoản 1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp…

Khoản 4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án”.

[5] Theo “Đơn đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng” số 0676711 ký ngày 09/09/2015 giữa Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) với ông Nguyễn H M thì có căn cứ xác định ông Nguyễn H M có đề nghị vay và đã được Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) chấp thuận cho vay và giải ngân số tiền 15.825.000 đồng (Mười lăm triệu tám trăm hai mươi lăm ngàn đồng), lãi suất thỏa thuận 3,75 %/tháng

Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì ông Minh có trách nhiệm thanh toán số tiền 21.275.000 đồng (Hai mươi mốt triệu hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) gồm cả gốc và lãi, trả chậm liên tiếp trong thời hạn 15 (Mười lăm) tháng, 14 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 1.399.000 đồng (Một triệu ba trăm chín mươi chín ngàn đồng), tháng cuối cùng trả 1.689.000 đồng (Một triệu sáu trăm tám mươi chín ngàn đồng). Thời gian bắt đầu trả tiển ngày 01/11/2015.

Thực hiện hợp đồng trên, ông M đã thanh toán cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) được một kỳ với tổng số tiền là 1.411.000 đồng (Một triệu bốn trăm mười một ngàn đồng) và thanh toán nhiều lần sau đó số tiền 2.500.000 đồng. Do đó việc Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) yêu cầu ông Nguyễn H M trả số tiền 17.364.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm sáu mươi bống ngàn đồng) là có căn cứ.

[6] Căn cứ vào “Đơn đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng” số 0676711 ký ngày 09/09/2015 giữa Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) với ông Nguyễn H M; việc Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn H M trả số tiền 17.364.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm sáu mươi bống ngàn đồng), trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 91, Điều 147, khoản 1 Điều 207; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 290, Điều 471, Điều 474 Bộ luật dân sự 2005;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26, tiểu mục 1.3 Mục 1 Phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) đối với ông Nguyễn H M.

Buộc ông Nguyễn H M trả cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) số tiền 17.364.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm sáu mươi bống ngàn đồng), trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Các đương sự thực hiện việc giao và nhận tiền tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án là ông M còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

2. Về án phí dân sự: Ông Nguyễn H M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 868.200 đồng (Tám trăm sáu mươi tám ngàn hai trăm đồng).

Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn lại cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam T V (VPB FC) 496.600 đồng (Bốn trăm chín mươi sáu ngàn sáu trăm đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2016/0022376 ngày 06/7/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn H M vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 56/2018/DS-ST ngày 10/04/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:56/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Chánh - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 10/04/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về