Bản án 56/2018/HS-ST ngày 23/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 56/2018/HS-ST NGÀY 23/05/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 23 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2018/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lƣờng Văn Q; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1995 tại: thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn Q, sinh năm 1967 và con bà Lường Thị T, sinh năm 1967; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/04/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tiền sự: Chưa lần nào bị xử lý vi phạm hành chính; bị bắt tạm giữ ngày từ ngày 02/02/2018, tạm giam ngày 08/02/2018, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Hà Thanh B, sinh năm 1986; nơi cư trú: Bản Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên, (Vắng mặt).

* Người có nghĩa vụ liên quan:

- Anh Hoàng Chung T, sinh năm 1991; nơi cư trú: Khối Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên, (vắng mặt).

- Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1958; nơi cư trú: Khối A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên, (Vắng mặt).

- Chị Trịnh Thị G, sinh năm 1980; nơi cư trú: Khối T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên, (Vắng mặt).

- Anh Hoàng Tùng L, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khối A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/02/2018 bị cáo Lường Văn Q đi ra xem ao của gia đình, khi đi qua nhà anh Hà Thanh B, thấy cửa nhà anh B khóa còn cửa bếp khôngkhóa. Bị cáo đi vào trong bếp trèo qua ô thoáng từ  dưới bếp lên trên nhà nhìn thấy 01 chiếc ba lô màu tím để ở trên ghế gần bàn làm việc, bị cáo mở ba lô ra xem thấy bên trong có một chiếc máy tính xách tay màu đen nhãn hiệu Lenovo B470e và 01 dây sạc máy tính. Bị cáo Q trộm cắp chiếc máy tính cùng dây sạc rồi trèo ra theo đường cũ đi thẳng đến nhà để xe của gia đình bị cáo lấy một chiếc bao xác rắn màu trắng, cho chiếc máy tính và dây sạc vào để mang đi bán. Khi bị cáo đi ra đến khu đất trống đối diện nhà nghỉ T ở khu cổng Trung tâm y tế huyện T, bị cáo giấu chiếc bao đựng máy tính vào trong bụi cây, sau đó đi ra đường đằng sau cổng bệnh viện thì gặp Hoàng Chung T, bị cáo nói với T “anh mượn cho em một chiếc xe để em đi chợ chơi một tý, em đợi ở cổng Methadone”. T đồng ý đi đến nhà chị Trịnh Thị G, trú tại khối T, thị trấn T, huyện T để mượn xe máy. Trịnh Thị G đã đưa cho T mượn chiếc xe máy Dream, biển kiểm soát 27Z1-000.00 là xe của Hoàng Tùng L, sinh năm 1987, trú tại khối A thị trấn T gửi ởnhà G (L là con trai của ông Hoàng Văn S, sinh năm 1958, trú tại khối A thị trấn T). Sau khi mượn được xe, T đi xe đến đưa xe cho bị cáo và nói “đi chợ nhanh nhanh rồi về trả xe cho chị G”. Bị cáo lấy xe đi đến chỗ cất giấu máy tính lấy mang đến cửa hàng bán và sửa chữa máy tính của anh Tống Mạnh Th gần cổng trường cấp 1, 2 thị trấn T để hỏi bán nhưng do máy tính đời cũ nên anh Th không mua. Cùng lúc đó thì có tổ công tác Công an thị trấn Tuần Giáo đến phát hiện, thu giữ của bị cáo Lường Văn Q một bao xác rắn màu trắng bên trong đựng 01 chiếc máy tính xách tay màu đen nhãn hiệu Lenovo B470e, 01 dây sạc máy tính và 01 chiếc xe máy Dream, biển kiểm soát 27Z1-000.00.

Ngày 05/02/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Tuần Giáo ra yêu cầu định giá tài sản số 23. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL-GTTS ngày 05/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Tuần Giáo đã kết luận: 01 máy tính xách tay, màu đen, nhãn hiệu Lenovo B470e đã qua sử dụng, kèm theo 01 dây sạc máy tính có giá trị 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo Lường Văn Q đã khai nhận như sau: Ngày 02/02/2018, tại bản Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo B470e và 01 dây sạc máy tính, tổng trị giá tài sản là 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) của gia đình anh Hà Thanh B, nhằm mục đích mang bán lấy tiền.

Tại bản Cáo trạng số: 34/CT-VKS ngày 09 tháng 4 năm 2018, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo Lường Văn Q về tội: Trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại đơn đề nghị bị hại anh Hà Thanh B trình bày: Vào ngày 02/02/2018 Lường Văn Q đã trộm cắp của gia đình anh 01 máy tính xách tay, màu đen, nhãn hiệu Lenovo B470e, kèm theo 01 dây sạc máy tính đã qua sử dụng, giá trị 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Tuần Giáo đã thu hồi được máy tính xách tay bị trộm cắp, ngày 02/4/2018 trả lại cho anh B máy tính trên, anh B không yêu cầu Q bồi thường thiệt hại. Về phần hình phạt, anh B đề nghị Tòa án xử phạt Lường Văn Q nghiêm minh theo quy định của pháp luật, vì trước đó Q đã phạm tội Trộm cắp tài sản. Tòa án đưa vụ án trên ra xét xử, do anh B bận công việc không thể tham gia phiên tòa được, nên đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bao tải xác rắn màu trắng đã qua sử dụng.

Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đã thực hiện đều hợp pháp và được chấp nhận.

[2] Về hành vi của bị cáo: Ngày 02/02/2018 bị cáo Lường Văn Q trộm cắp 01chiếc máy tính xách tay nhãn  hiệu Lenovo B470e cùng 01 dây sạc máy tính, trị giá là 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) của gia đình anh Hà Thanh B, nhằm mục đích mang bán lấy tiền. Nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lường văn Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sỡ hữu về tài sản của gia đình anh Hà Thanh B; gây mất an toàn trên địa bàn huyện Tuần Giáo nói riêng, tỉnh Điện Biên nói chung. Bị cáo đã bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản, lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học để sống tốt hơn, có ích cho gia đình và xã hội. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm ít nghiêm trọng. Vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, mới có tác dụng phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngày 01/02/2017 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ngày 02/02/2018 bị cáo lại tiếp tục phạm tội khi chưa được xóa án tích; nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời giúp bị cáo cai nghiện chất ma túy.

[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, bản thân nghiện chất ma túy, sống phụ thuộc vào gia đình, không có nghề nghiệp ổn định, nên không có khả năng thi hành. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo 15 tháng đến 18 tháng tù và không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.

[7] Xét về phần dân sự: Đối với 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo B470e cùng 01 dây sạc máy tính bị trộm cắp, anh Hà Thanh B đã được Cơ quan điều tra trả lại, không có yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Đối với chiếc xe máy hiệu Dream, màu nâu, biển kiểm soát 27Z1-000.00 qua điều tra xác định thuộc sở hữu hợp pháp của ông Hoàng Văn S, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Ngày 02/4/2018 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc xe cho ông Hoàng Văn S là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Đối với Hoàng Chung T là người đã cho bị cáo mượn xe máy. Qua điều tra làm rõ khi cho bị cáo mượn xe, T không biết bị cáo chở tài sản trộm cắp đi bán, bị cáo cũng không nói cho T biết. Xét thấy T không có hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra không đề cập vấn đề xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Đối với Trịnh Thị G là người đã cho Hoàng Chung T mượn xe. Qua điều tra làm rõ chiếc xe máy trên, chị G cho T mượn là của Hoàng Tùng L, sinh năm 1987, trú tại khối A thị trấn T (con trai ông Hoàng Văn S) gửi tại nhà của chị G, L không biết chị G cho T mượn xe máy. T trực tiếp mượn xe máy trên từ chị G, còn việc T cho bị cáo mượn lại xe thì chị G, L không biết. Bản thân T, L, chị G đều không biết bị cáo sử dụng xe máy trên chở tài sản trộm cắp mang đi bán, Cơ quan điều tra không đề cập vấn đề xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo B470e cùng 01 dây sạc máy tính, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại anh Hà Thanh B là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với 01 chiếc bao tải xác rắn màu trắng đã qua sử dụng không có giá trị, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[12] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn Q phạm tội Trộm cắp tài sản.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn Q 15 (mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 02/02/2018.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bao xác rắn màu trắng theo Phiếu nhập kho số: PNKVC52 ngày 17/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.

3. Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (23/5/2018). Bị hại Hà Thanh B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 56/2018/HS-ST ngày 23/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:56/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuần Giáo - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về