Bản án 56/2018/HS-ST ngày 24/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 56/2018/HS-ST NGÀY 24/10/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 24 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2018/HSST ngày 25 tháng 09 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2018/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1996 tại huyện Đ, tỉnh T; nơi cư trú: T, xã K, huyện Đ, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 14/6/2018 đến ngày 23/6/2018; hiện đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Ngọ Văn K, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh B, vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Xuân Phương, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện Th, tỉnh T, vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Thân Thị T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/6/2018, anh Ngọ Văn K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, BKS 98K9-7912 đi từ nhà đến dẫy nhà trọ của bà Thân Thị T ở thôn N, xã N, huyện Y để gặp người quen tên là Hà Thị H hiện đang làm công nhân tại khu Công nghiệp S - N. Khi đến nơi anh K không gặp được chị H nên đã xin ngủ qua đêm tại phòng trọ của T đang thuê trọ ở cạnh phòng trọ của chị H. Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 13/6/2018, T thấy anh K đã ngủ say nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Lelovo màu đen của anh K để sử dụng cá nhân, T thu dọn đồ đạc cá nhân của mình cho vào ba lô rồi lấy chiếc chìa khóa xe mô tô của anh K đang để ở trên chiếc chiếu cạnh chỗ anh K ngủ và đi ra vị trí chiếc xe mô tô đang dựng ở ngoài cửa phòng trọ, T mở cốp xe mô tô thì thấy bên trong có 01 chiếc ví da, trong ví có 01 giấy phép lái xe mô tô; 01 chứng minh nhân dân đều mang tên Ngọ Văn K, 01 đăng ký xe mô tô. T lấy đăng ký xe để vào trong cốp xe, còn chiếc ví và những giấy tờ còn lại T để trong phòng trọ. Sau đó, T lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Lelovo của anh K cất giấu vào túi quần rồi và điều khiển xe đi đến thôn C, xã N, huyện Y vào nhà trọ của bạn là anh Bùi Xuân P gửi xe mô tô nhờ anh P giữ hộ, sau đó T đi ra ngoài thuê xe khách đi về nhà ở tỉnh T. Sau khi phát hiện tài sản của mình bị mất, anh Ngọ Văn K đã làm đơn trình báo cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng.

Ngày 14/6/2018, biết hành vi của mình bị phát hiện nên Nguyễn Văn T gặp anh P lấy lại chiếc xe mô tô rồi đi đến Công an huyện Yên Dũng đầu thú và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Lenovo màu đen, 01 chiếc xe mô tô BKS: 98K9-7912, 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy BKS 98K9-7912 cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng.

Ngày 15/6/2018, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng có Yêu cầu định giá tài sản để xác định giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu LENOVO màu đen mà T trộm cắp của anh K. Tại bản kết luận định giá tài sản số 40/KL-ĐGTS ngày 19/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Dũng kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, BKS: 98K9-7912 trị giá 9.399.000 đồng (đ); 01 điện thoại di động nhãn hiệu LENOVO màu đen trị giá 976.000 đ; tổng trị giá tài sản: 10.375.000 đ.

Đối với anh Bùi Xuân P có hành vi cho T gửi chiếc xe mô tô BKS: 98K9- 7912, nhưng anh P không biết đó là tài sản do T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 17/7/2018, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng đã trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, BKS: 98K9-7912, 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu LENOVO màu đen cho anh Ngọ Văn K.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Ngọ Văn K đã nhận lại tài sản, không yêu cầu Nguyễn Văn T phải bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 58/KSĐT ngày 19/09/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đã trình bày luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 đến 09 tháng tù.

Ngoài ra, còn đề cập đường lối xử lý về vật chứng và tiền án phí.

Bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người đúng tội, bị cáo không bị oan và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 13/6/2018, tại nhà trọ của bà Thân Thị T ở thôn N, xã N, huyện Y, Nguyễn Văn T có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn đỏ xám đen, BKS: 98K9-7912 trị giá 9.399.000 đ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu LENOVO màu đen trị giá 976.000 đ, tổng trị giá là 10.375.000 đ của anh Ngọ Văn K. Do vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo một hình phạt tương ứng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú. Do vậy, cần áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[6] Bản thân bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi thường trú cụ thể rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

[7] Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo, song xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có việc làm, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Anh Ngọ Văn K đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sựNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 08 tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho uỷ ban nhân dân xã K, huyện Đ, tỉnh T giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách; trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Áp dụng các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


39
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về