Bản án 56/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 56/2018/HS-ST NGÀY 30/11/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2018/TLST-HS, ngày 09 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2018/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T, sinh năm 1995, tại huyện B, tỉnh Yên Bái;

Nơi cư trú: Thôn D, xã Nh, huyện B, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Hoàng Văn Lực, sinh năm 1969 và con bà Vũ Thị Hoa, sinh năm 1970. Vợ: Hoàng Thị Hường, sinh năm 2000. Con: Có 01 con sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Bà Đặng Thị Mừng, sinh năm 1955;

Địa chỉ: Tổ dân phố Tân Phú, thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Vũ Văn Mai, sinh năm 1978;

2. Chị Hoàng Thị Nhẫn, sinh năm 1977;

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Yên Thịnh, thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, (anh Mai có mặt, chị Nhẫn vắng mặt).

3. Anh Ma Văn Quang, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Thôn Làng Dự, xã Cảm Nhân, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 11/9/2018, Hoàng Văn T trú tại thôn D, xã Nh, huyện B, tỉnh Yên Bái điều khiển xe môtô BKS: 22Y1-091.84 (T mượn xe môtô của anh Vũ Văn Mai trú tại tổ dân phố Yên Thịnh, thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, anh Mai là cậu ruột của Tiến) đi đến xã Tân Thành, huyện Hàm Yên chơi.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, khi đi về qua thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, T liền nảy sinh ý định vào nhà bà Đặng Thị Mừng trú tại tổ dân phố Tân Phú, thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên để trộm cắp phong lan (trước đó T làm thợ xây cho gia đình ông Thành Lý sát cạnh nhà bà Mừng nên Tiến biết nhà bà Mừng có trồng nhiều hoa phong lan). T điều khiển xe môtô đến trước nhà bà Mừng, quan sát thấy không có người, T đi vào trong ngôi nhà đang xây của gia đình ông Thành Lý, trèo qua giàn giáo cửa sổ tầng hai đi vào nhà bà Mừng. T thò tay qua hàng rào sắt nơi bà Mừng treo phong lan lấy trộm được 03 dò phong lan gồm: 01 dò phong lan da báo (cẩm báo) gồm 01 thân mẹ và 05 thân con; 01 dò phong lan kiều tím gồm 41 thân có 03 lá trở lên, 10 thân có 02 lá, 04 thân có 01 lá và 05 thân không lá; 01 dò phong lan kiều tím (không xác định được bao nhiêu thân lá). T cầm 03 dò phong lan điều khiển xe môtô đi về, trên đường về T làm rơi 01 dò phong lan kiều tím (không xác định được vị trí cụ thể). Khoảng 23 giờ cùng ngày, T đem 02 dò phong lan còn lại đến bán cho anh Ma Văn Quang trú cùng thôn được tổng số tiền là 450.000đ (anh Quang không biết 02 dò phong lan là do T trộm cắp mà có), số tiền bán phong lan có được T đem chi tiêu cá nhân hết. Ngày 14/9/2018 biết hành vi phạm tội của mình không thể che giấu được nên đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và và giao nộp 02 dò phong lan cho Cơ quan điều tra.

Tại kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 14/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hàm Yên kết luận:

- 01 dò phong lan da báo (cẩm báo) gồm 01 thân mẹ và 05 thân con trị giá 100.000đ;

- 01 dò phong lan kiều tím gồm 41 thân có 03 lá trở lên, 01 thân có 02 lá, 04 thân có 01 lá và 05 thân không lá có lá trị giá 5.000.000đ. 02 dò phong lan Hoàng Văn T trộm cắp của bà Đặng Thị Mừng có tổng trị giá là 5.100.000đ (Năm triệu một trăm nghìn đồng chẵn). 01 dò phong lan kiều tím, Tiến đã làm rơi trên đường về nên không có căn cứ để định giá tài sản.

Cáo trạng số 53/CT-VKSHY, ngày 09/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên đã truy tố Hoàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với Hoàng Văn T theo tội danh, Điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Hoàng Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 - Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Hoàng Văn T từ 07 (bảy) tháng đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

* Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền ) đối với bị cáo.

* Về dân sự: Không đề nghị giải quyết.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Ngoài lời khai nhận tội của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng lời khai của bị hại cùng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ trên đây đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 11/9/2018, Hoàng Văn T trú tại thôn D, xã Nh, huyện B, tỉnh Yên Bái có hành vi trộm cắp của bà Đặng Thị Mừng trú tại tổ dân phố Tân Phú, thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 03 dò phong lan, trong đó 02 dò có tổng trị giá là 5.100.000đồng (Năm triệu một trăm nghìn đồng chẵn). 01 dò phong lan kiều tím, Tiến đã làm rơi trên đường về nên không có căn cứ để định giá tài sản.

Hành vi của bị cáo Hoàng Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội.

[3] Xét về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Vì mục đích vụ lợi bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và trực tiếp xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác. Vì vậy cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường xong thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đến Công an huyện Hàm Yên đầu thú; bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo để lên mức án cho phù hợp.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 - Bộ luật hình sự và để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy không cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam, mà cho bị cáo hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Cảm Nhân, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

 [4] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản gì có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong theo yêu cầu của bị hại, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [6] Về vật chứng: Ngày 16/9/2018 Cơ quan điều tra trả lại 02 dò phong lan cho bà Đặng Thị Mừng là chủ sở hữu hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[7] Đối với anh Vũ Văn Mai cho Hoàng Văn T mượn xe môtô nhưng anh Mai không biết Tiến sử dụng xe để trộm cắp tài sản; anh Ma Văn Quang mua 02 dò phong lan nhưng anh Quang không biết là tài sản do Tiến trộm cắp nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập xử lý anh Mai và anh Quang trong vụ án, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 173 của Bộ luật hình sự:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 - Bộ luật hình sự;

- Xử phạt: Hoàng Văn T 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/11/2018).

Giao bị cáo Hoàng Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã Nh, huyện B, tỉnh Yên Bái giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo Hoàng Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Áp dụng các Điều 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, anh Mai được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hay niêm yết bản án.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 56/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:56/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hàm Yên - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về