Bản án 56/2019/HS-ST ngày 18/04/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G - TỈNH K

BẢN ÁN 56/2019/HS-ST NGÀY 18/04/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 18 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2019/HSST ngày 25-3-2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1996.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: ấp Thứ Nhất, xã Tây Yên, huyện A B, tỉnh K.

Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Đ1; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Hoàng O, sinh năm: 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: số 26/37A/5 đường Trần Quý Cáp, phường AB1, thành phố G, tỉnh K.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liện quan:

1. Bà Trương Thị Đ1, sinh năm: 1975 (có mặt)

2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1972 (có mặt)

Đa chỉ: cùng ngụ tại ấp Thứ Nhất, xã Tây Yên, huyện A B, tỉnh K.

3. Ông Trần Khắc H, sinh năm: 1971 (vắng mặt)

Đa chỉ: Tổ 4, khu phố 3, thị trấn thứ 3, huyện A B, tỉnh K.

Người chứng kiến:

1. Ông Trần Văn H1, sinh năm: 1971 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố Minh Long, thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh K.

2. Ông Nguyễn Văn Út Lớn, sinh năm: 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Minh Hòa, xã Mong Thọ A, huyện Châu Thành, tỉnh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên trước đây Nguyễn Văn Đ là nhân viên làm thuê tại cây xăng Hữu Khương ở E7-28 đường 3 tháng 2, phường Vĩnh Lạc, thành phố G, tỉnh K. Khoảng 19 giờ ngày 28-12-2018 Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honđa loại Wave RSX biển số 68B1-35034 của Đ đi từ nhà ở ấp Thứ I, xã Tây Yên, huyện A B, tỉnh K đến thành phố G để chơi. Đến khoảng 00 giờ 47 phút ngày 29-12-2018 Đ chạy xe đi về nhà và khi Đ chạy xe qua cây xăng Hữu Khương thì Đ dừng xe lại để đi vệ sinh. Trong lúc đi vệ sinh thì Đ phát hiện cửa rào cây xăng có hở một khoảng trống đủ chổ cho người có thể chui qua được. Đ quan sát xung quanh không có ai canh giữ và do cần tiền tiêu xài nên Đ nảy sinh ý định lấy trộm tiền. Do đã từng làm việc ở cây xăng Hữu Khương nên Đ biết rõ quy luật là cây xăng chỉ bán xăng đến 23 giờ hàng ngày là nghỉ. Khi nghỉ thì nhân viên để tiền bán xăng trong phòng kế toán do chị Nguyễn Thị Hoàng O quản lý và chìa khóa phòng kế toán thì để ở phòng nhân viên bán xăng. Do cây xăng Hữu Khương có đặt camera an ninh nên Đ đi đến chổ cầu dao Đ của cây xăng, kéo cầu dao xuống, cắt điện làm cho hệ thống camera an ninh của cây xăng không hoạt động được. Sau đó, Đ chui qua khoảng hở của hàng rào, đột nhập vào bên trong, đi vào phòng nhân viên bơm xăng để lấy chìa khóa phòng của nhân viên kế toán rồi Đ đi qua phòng kế toán. Tại đây Đ phát hiện 01 cọc tiền Việt Nam đang để trên bàn, Đ lấy cọc tiền rồi bỏ vào trong áo và kẹp vào nách rồi khóa cửa phòng lại, đem chìa khóa trả vào chổ củ rồi thoát ra ngoài theo lối vào và lên xe chạy về nhà ở huyện A B, tỉnh K. Khi Đ về đến nhà lấy cọc tiền ra đếm được 15.503.000 đồng, Đ lấy 04 tờ mệnh giá 500.000 đồng để tiêu xài cá nhân, số tiền còn lại Đ đem ra phía sau nhà cất dấu trong tấm bạt cao su. Đến ngày 30-12-2018 Đ bị Cơ quan điều tra mời lên làm việc và tại cơ quan công an Đ đã thừa nhận hành vi lấy trộm tiền và đã giao nộp lại toàn bộ số tiền trộm được 15.503.000 đồng. Đến ngày 07-01-2019 Đ bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố G khởi tố để điều tra.

Vật chứng thu giữ:

Tiền Việt nam 15.503.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền này cho bị hại Nguyễn Thị Hoàng O; 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 29-12-2018 tại Lô E7-28 đường 3 tháng 2, phường Vĩnh Lạc, thành phố G, tỉnh K đã được niêm phong đưa vào hồ sơ vụ án;

Riêng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda số loại Wave RSX biển số 68B1-350.34 mà Đ dùng làm phương tiện trộm cắp, Đ đã bán chiếc xe này cho chủ tiệm cầm đồ là anh Trần Khắc Huy, sau đó anh Huy đã bán lại chiếc xe này cho 01 khách lạ nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không có yêu cầu gì thêm.

Từ các tình tiết nêu trên, tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKSTPRG ngày 22-3- 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố G đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố G giữ quyền công tố luận tội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 do bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện giao nộp tài sản đã lấy trộm được. Tuy nhiên, số tiền bị cáo chiếm đoạt so với mức thu nhập bình quân trên địa bàn thành phố G tương đối lớn nên đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã giao trả số tiền 15.503.000 đồng cho bị hại nên không đề nghị xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại có trong hồ sơ và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đã phù hợp với nội dung Cáo trạng, kết luận điều tra, lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó khẳng định:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ là nhân viên cũ của Cây xăng Hữu Khương tại số E7-28 đường ba tháng 2, phường Vĩnh Lạc, thành phố G, tỉnh K, chị Nguyễn Thị Hoàng O là nhân viên kế toán. Vào khoảng 00 giờ 47 phút ngày 29-12-2018 bị cáo đã đột nhập vào phòng kế toán của Cây xăng Hữu Khương và lén lút lấy trộm 01 cọc tiền Việt Nam tổng cộng 15.503.000 đồng, bị cáo lấy 04 tờ mệnh giá 500.000 đồng trong số tiền trộm được để tiêu xài cá nhân, số tiền còn lại bị cáo đem cất dấu tại nhà của bị cáo ở huyện A B, tỉnh K. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, truy tố bị cáo theo các điều khoản như trên của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

[3] Xét nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án hay tiền sự. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham bị cáo cố ý trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, làm mất trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội, đồng thời cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt cần cân nhắc tình tiết bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, Hội đồng xét xử thấy rằng, tại phiên tòa bị cáo khai nhận là bị cáo đã bán chiếc xe Honda số loại Wave RSX biển số 68B1-350.34 để lấy số tiền 2.000.000 đồng khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, đây là chiếc xe bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện việc phạm tội nhưng khi Cơ quan cảnh sát điều tra mời bị cáo lên làm việc, ngay sau đó bị cáo bán xe gây cản trở quá trình điều tra và Cơ quan cảnh sát điều tra đã không thu hồi được chiếc xe do chủ tiệm cầm đồ đã bán qua người khác, không rõ tên địa chỉ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với số tiền lấy trộm bị cáo đã tự nguyện giao nộp cho bị hại nên cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để cân nhắc hình phạt cho bị cáo.

Từ những nhận định trên, qua đánh giá một cách toàn diện nội dung vụ án, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì mức hình phạt tù theo khởi điểm đề nghị của đại diện viện kiểm sát đã đảm bảo tính răn đe, trừng trị và đủ thời gian cải tạo bị cáo làm người có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét bản thân bị cáo đi làm thuê nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không có yêu cầu gì thêm.

[6] Về xử lý vật chứng:

Tiền Việt nam 15.503.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền này cho bị hại Nguyễn Thị Hoàng O. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố G đã xử lý đúng theo quy định tại Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 29-12-2018 tại Lô E7-28 đường 3 tháng 2, phường Vĩnh Lạc, thành phố G, tỉnh K đã được niêm phong, lưu hồ sơ vụ án;

Riêng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda số loại Wave RSX biển số 68B1-350.34 mà Đ dùng làm phương tiện trộm cắp, Đ đã bán chiếc xe này cho chủ tiệm cầm đồ là anh Trần Khắc Huy, sau đó anh Huy đã bán lại chiếc xe này cho 01 khách lạ Cơ quan điều tra không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày vào chấp hành án.

-Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18-4-2019). Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 56/2019/HS-ST ngày 18/04/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:56/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 18/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về