Bản án 56/2019/HSST ngày 29/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 56/2019/HSST NGÀY 29/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 29 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2019/HSST, ngày 26 tháng 4 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2019/QĐXXST-HS ngày 16/5/2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Bá Đ(Tên gọi khác: không), sinh ngày 29 tháng 7 năm 1987, tại xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHK thường trú và chổ ở hiện nay: xóm L, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: làm ruộng; Đảng, đoàn thể: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không: Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Bá N, sinh năm 1961; Con bà: Phan Thị N, sinh năm 1962; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Thái Thị O, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Có 01 con 08 tuổi; Tiền án: Có 02 tiền án: Ngày 27/11/2012, bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/8/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù của hai bản án nêu trên; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2018 đến nay tại Trại tạm giam tại Trạm giam Công an tỉnh Nghệ An( Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Nguyễn Văn S (Tên gọi khác: không), sinh ngày 14 tháng 4 năm 1994 tại xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi ĐKHK thường trú và chổ ở hiện nay: xóm 7, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: làm ruộng; Đảng, đoàn thể: không ;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1965; Con bà: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1967; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;Vợ, con: chưa có; Tiền án: Có 01 tiền án: Bản án số: 75/2014/HSST ngày 20/11/2014 của TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt bị cáo 06 tháng tù về “Tội trộm cáp tài sản”. Bị cáo dã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/1/2015, chưa chấp hành bồi thường dân sự số tiền 1.500.000đ(Một triệu năm trăm ngàn đồng). Tiền sự: Ngày 22/3/2018 bị Công an huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử lý vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ(Một triệu năm trăm ngàn đồng) về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2019 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An.(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại:

+/ Bà Thái Thị H, sinh năm 1971(Có mặt)

Trú tại: xóm 7, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An(Có mặt)

+/Ông Phạm Hữu B, sinh năm 1975 (Có mặt)

Trú tại: xóm P, xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

+/ Ông Trịnh Văn C, sinh năm 1964 (Vắng mặt)

Trú tại: xóm T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian tháng 7 năm 2018, Nguyễn Bá Đ sinh năm 1987 trú xóm L, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An và Nguyễn Văn S, sinh năm 1994 trú xóm 7, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An cùng một số đối tượng khác đã cùng nhau thực hiện nhiều hành vi trộm cắp xe máy trên địa bàn huyện Y cụ thể như sau:

- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/7/2018, Nguyễn Bá Đ rủ Bùi Văn T sinh năm 1994 trú xóm 4, xã V, huyện Y đi trộm cắp xe máy bán lấy tiền tiêu xài thì Bùi Văn T đồng ý. Nguyễn Bá Đ điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha màu đen, không rỏ biển kiểm soát là xe của T chở Bùi Văn T đi theo đường xã L, huyện Y đến xã L, huyện Y. Đi đến xóm 7, xã L, huyện Y thì phát hiện 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha màu đỏ-đen-bạc, biển kiểm soát 37D1-68162 của bà Thái Thị H sinh năm 1971 ở xóm 7, xã L, huyện Y đang để sát nhà văn hóa của xóm không có người canh giữ. Nguyễn Bá Đ điều khiển xe máy đến sát chiếc xe máy nói trên và dùng Vam phá khóa chữ “T” do Đ đã chuẩn bị trước đó phá khóa xe. Sau khi Nguyễn Bá Đ phá được khóa xe thì Bùi Văn T xuống xe đi đến lấy chiếc xe máy này điều khiển xe chạy đi, còn Nguyễn Bá Đ điều khiển xe máy chạy theo sau. Sau khi trộm được xe Bùi Văn T đem xe đi bán được số tiền 2.500.000đ, Bùi Văn T, Nguyễn Bá Đ cùng nhau tiêu xài cá nhân hết số tiền bán xe. Tại Kết luận định giá tài sản số: 03 ngày 10/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Yên Thành kết luận: 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha, màu đỏ-đen-bạc, số máy: HC12E-5679626, số khung: 1218DY-679559, biển kiểm soát: 37D1-68162 của bà Thái Thị H trị giá 10.500.000đ(Mười triệu năm trăm nghìn đồng),xe không thu hồi được, bà H yêu cầu bồi thường 10.500.000đ(Mười triệu năm trăm nghìn đồng) - Vụ thứ hai: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08/7/2018, Nguyễn Bá Đ cùng với Đinh Văn T sinh năm 1988, trú tại xóm chợ V, xã L, huyện Y rủ nhau đi trộm cắp xe máy để bán lấy tiền tiêu xài. Đinh Văn T điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter màu đỏ, không rỏ biển kiểm soát chở Nguyễn Bá Đ đi đến xóm B, xã N, huyện Y thì phát hiện 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển kiểm soát 94K1-37524 của ông Trịnh Văn C sinh năm 1964 trú tại xóm T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An đang dựng bên lề đường thuộc xóm B, xã N, huyện Y không có người trông coi. Thấy thế, Nguyễn Bá Đ nói với T dừng xe để Nguyễn Bá Đ đến trộm cắp chiếc xe máy này. Đinh Văn T dừng xe máy, cảnh giới, còn Nguyễn Bá Đ đi bộ đến chiếc xe máy nói trên dùng Vam hình chữ “T” do Đinh Văn T đưa cho Nguyễn Bá Đ phá khóa ổ điện của xe máy rồi điều khiển xe chạy đi. Nguyễn Bá Đ điều khiển xe máy vừa trộm về nhà của mình cất dấu chờ có cơ hội sẽ đưa đi tiêu thụ. Ngày 08/7/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành đã thu giữ chiếc xe máy nói trên tại nhà của Nguyễn Bá Đ. Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 24 ngày 12/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Yên Thành kết luận: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đỏ đen, số máy: 5C6H200805, số khung: C6HOGY200794, biển kiểm soat: 94K1-37524 của ông Trịnh Văn C trị giá 12.500.000đ (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng), xe của ông Trịnh Văn C đã được thu hồi trả lại, người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Vụ thứ 3: Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 13/7/2018, Nguyễn Bá Đ và Nguyễn Văn S gặp nhau tại quán cà phê bi-a Family thuộc xã B, huyện Y. Sau khi gặp nhau Nguyễn Bá Đ rủ Nguyễn Văn S đi trộm cắp xe máy để bán lấy tiền tiêu xài thì Nguyễn Văn S đồng ý. Nguyễn Bá Đ điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha màu đen, không rõ biển kiểm soát do Nguyễn Bá Đ mượn của Bùi Văn T trú chở Nguyễn Văn S đi theo Quốc lộ 7A đến cây xăng 51 rẽ về hướng xã K, huyện Y. Đi đến xóm P, xã K, huyện Y thì cả hai phát hiện 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Dream màu nâu, biển kiểm soát 37P1-01406 của anh Phạm Hữu B, chìa khóa đang cắm trong ổ khóa đang dựng phía trong sân gần cổng đi. Thấy vậy, Nguyễn Bá Đ dừng xe máy lại, Nguyễn Văn S xuống xe đi mở cổng đi vào lấy trộm xe máy nói trên dắt xe đi khoảng 10 mét thì bật chìa khóa điện nổ máy chạy đi. Điều khiển xe đến cầu V thuộc xã K, huyện Y thì Nguyễn Văn S giao chiếc xe máy vừa trộm cắp cho Nguyễn Bá Đ, còn Nguyễn Văn S tiếp tục điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha màu đen đến quán cà phê bi-a Famyly chơi. Sau khi được Nguyễn Văn S giao xe thì Nguyễn Bá Đ điều khiển xe đi đến nhà Bùi Văn T nhờ Bùi VănT bán hộ. Sau khi bán được xe thì Nguyễn Văn S, Nguyễn Bá Đ và Bùi Văn T cùng nhau tiêu xài hết số tiền bán xe. Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 03 ngày 10/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Yên Thành kết luận: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Dream, màu nâu, số máy: A08E-1523095, số khung: AY-22951, biển kiểm soát: 37P1-01406 của anh Phạm Hữu B trị giá 12.200.000đ (Mười hai triệu hai trăm ngàn đồng). Xe của anh B không thu hồi được, anh không yêu cầu bồi thường.

Tổng giá trị tài sản 3 vụ trộm cắp xe máy do Nguyễn Bá Đ, Nguyễn Văn S thực hiện được Hội đồng định giá xác định là 35.200.000đ (Ba mươi lăm triệu hai trăm nghìn đồng).Trong vụ án này, Nguyễn Bá Đ khai đã cùng với Đinh Văn T thực hiện trộm cắp 01 chiếc xe máy của ông Trịnh Văn C. Quá trình điều tra, Đinh Văn T không thừa nhận việc cùng Đ trộm cắp tài sản, chưa có đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T.

Nguyễn Bá Đ còn khai đã cùng với Nguyễn Văn S thực hiện hiện 01 vụ trộm cắp xe máy của anh Phạm Hữu B, sau đó Nguyễn Bá Đ đã như Bùi Văn T bán 01 chiếc xe mà Đ và S trộm cắp. Quá trình xác minh, điều tra hiện Bùi Văn T không có mặt tại địa phương, chưa đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự với Bùi Văn T, khi nào làm rỏ được sẽ tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Ngoài ra Nguyễn Bá Đ và Nguyễn Văn S còn khai nhận trong thời gian tháng 7 năm 2018 còn thực hiện 04 vụ trộm cắp xe máy khác. Do chưa xác định được bị hại nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành chưa khởi tố vụ án, khởi tố bị can, khi nào xác định được các bị hại sẽ tiến hành xử lý theo qui định.

Tại bản cáo trạng số: 62/VKS-HS-TA, ngày 26 tháng 4 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Bá Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Truy tố Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị xử lý đối với các bị cáo như sau:

- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Đ từ 36 tháng đến 39 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” .

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S từ 07 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 589 của Bộ luật dân sự.

Buộc: Nguyễn Bá Đ phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà Thái Thị H 10.500.000đ(Mười triệu, năm trăm nghìn đồng).

Xe máy của anh Phạm Hữu B không thu hồi được, anh B không yêu cầu bị cáo bồi thường nên miễn xét.

- Về xử lý vật chứng: Xe máy của ông Trịnh Văn C đã thu hồi được trả lại cho chủ sở hữu.

Chiếc vam chữ T là công cụ mà các bị cáo dùng làm phương tiện phá khóa xe máy để trộm cắp không thu hồi được nên không có căn cứ để xử lý.

- Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Bá Đ, Nguyễn Văn S phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo không tranh luận đối đáp gì bản luận tội và đề nghị của đại diện viện kiểm sát. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử cho bị được hưởng mức án thấp nhất, nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Căn cứ buộc tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa cho thấy trong tháng 7 năm 2018 Nguyễn Bá Đ và Nguyễn Văn S và một số đối tượng khác đã cùng nhau thực hiện nhiều hành vi trộm tài sản trên địa bàn huyện Y, có một số vụ chưa xác định được bị hại nên chưa được khởi tố, truy tố, chỉ có 03 vụ án xác định được người bị hại đã được khởi tố, truy tố như sau:

- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/7/2018, Nguyễn Bá Đ cùng Bùi Văn T chở nhau bằng xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha màu đen, không rỏ biển kiểm soát của Bùi Văn T đi theo đường xã L, huyện Y đến xã L, huyện Y với mục đích tìm sơ hở của chủ sở hữu để trộm cắp xe máy bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến nhà văn hóa xóm 7, xã L, huyện Y thì Nguyễn Bá Đ và Bùi Văn T thấy 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha, màu đỏ-đen-bạc, số máy: HC12E-5679626, số khung: 1218DY-679559, biển kiểm soát: 37D1-68162 của chị Thái Thị H, ở xóm 7, xã L, huyện Y đang dựng sát nhà văn hóa xóm 7, xã L, huyện Y không có người trông giữ. Cả hai đã dùng vam chữ T phá khóa xe trộm chiếu xe nêu trên, sau khi trộm được xe Bùi Văn T đưa xe bán xe lấy số tiền 2.500.000đ, tiền bán xe T và Đ cùng nhau tiêu xài hết. Chiếc xe máy của bà Thái Thị H được Hội đồng định giá xác định có trị giá 10.500.000đ (Mười triệu năm trăm ngàn đồng). Xe máy của bà H không thu hồi được, bà yêu cầu bồi thường 10.500.000đ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng).

- Vụ thứ hai: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08/7/2018, Nguyễn Bá Đ cùng với Đinh Văn T điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter màu đỏ, không rõ biển kiểm soát chở nhau đi trộm xe máy để bán lấy tiền tiêu xài. Đi đến xóm B, xã N, huyện Y cả hai phát hiện 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, biển kiểm soát 94K1-37524 của ông Trịnh Văn C ở xóm T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An đang dựng bên lề đường. Nguyễn Bá Đ bảo Đinh Văn T dừng xe để vào trộm xe máy, sau khi dừng xe Nguyễn Bá Đ đi bộ đến chiếc xe máy dùng vam chữ “T” do T đưa cho Đ phá khóa ổ điện của xe máy rồi điều khiển xe chạy đi, sau đó Nguyễn Bá Đ đưa xe về nhà cất dấu, chờ cơ hội để đưa đi tiêu thụ. Ngày 08/7/2018,Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành đã thu giữ chiếc xe máy này tại nhà Nguyễn Bá Đ. Xe máy của ông Trịnh Văn C được Hội đồng định giá xác định có giá trị 12.500.000đ (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng). Xe máy của ông C đã được thu hồi trả lại cho bị hại, ông không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Vụ thứ 3: Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 13/7/2018, Nguyễn Bá Đ và Nguyễn Văn S gặp nhau tại quán cà phê bi-a Family ở xã B, huyện Y. Tại đây Nguyễn Bá Đ rủ Nguyễn Văn S đi trộm cắp xe máy để bán lấy tiền tiêu xài thì Nguyễn Văn S đồng ý. Nguyễn Bá Đ điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha màu đen, không rỏ biển kiểm soát do Nguyễn Bá Đ mượn của Bùi Văn T chở Nguyễn Văn S đi theo Quốc lộ 7A, đi đến cây xăng 51 thì rẽ về hướng xã K, huyện Y. Đi đến xóm P, xã K, huyện Y thì Nguyễn Bá Đ đứng ngoài cảnh giới Nguyễn Văn S đi vào nhà anh Phạm Hữu B trộm của anh Phạm Hữu B 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Dream màu nâu, biển kiểm soát 37P1-01406. Sau khi trộm đươc xe Nguyễn Văn S điều khiển xe đi đến cầu V thuộc xã K, huyện Y thì giao xe máy vừa trộm cắp cho Nguyễn Bá Đ, còn Nguyễn Văn S điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha màu đen đến quán cà phê bi-a Famyly chơi. Nguyễn Bá Đ điều khiển xe vừa trộm được đi đến nhà Bùi Văn T nhờ Bùi Văn T bán hộ, sau khi bán được xe, số tiền bán xe thì cả ba đối tượng Nguyễn Văn S, Nguyễn Bá Đ, Bùi Văn T cùng nhau tiêu xài hết số tiền bán xe. Xe máy của anh B được Hội đồng định giá xác định trị giá 12.200.000đ (Mười hai triệu hai trăm ngàn đồng), xe anh B không thu hồi được nhưng anh không yêu cầu bồi thường.

Trên cơ sở lời khai nhận của các bị cáo, những người bị hại,vật chứng thu được, kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản và các chứng cứ khác đã thu thập được. Cơ quan điều tra đã xác định Nguyễn Bá Đ thực hiện 3 vụ trộm cắp xe máy, cụ thể Ngày 02/7/2018 Nguyễn Bá Đ đã cũng Bùi Văn T trộm cắp xe máy của bà Thái Thị H ở xã L 01 xe máy trị giá 10.500.000 đồng; Ngày 08/7/2018 Nguyễn Bá Đ đã cùng Đinh Văn T trộm cắp xe máy của ông Trịnh Văn C ở xã N 01 xe máy trị giá 12.500.000đ(Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng); Ngày 13/7/2018 Nguyễn Bá Đ đã cùng Nguyễn Văn S trộm cắp xe máy của anh Phạm Hữu B ở xã K 01 xe máy trị giá 12.200.000đ(Mười hai triệu hai trăm nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản của 3 vụ trộm cắp do Nguyễn Bá Đ và Nguyễn Văn S thực hiện là 35.200.000đ(Ba mươi lăm triệu hai trăm nghìn đồng). Cơ quan điều tra, điều tra viên xác định Nguyễn Bá Đ, Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”, nên đã tiến hành các hoạt động tố tụng theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự như quyết định khởi tố vụ án, khởi tố các bị can, lấy lời khai, hỏi cung bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với các bị can, đồng thời thu thập các tài liệu chứng cứ để làm cơ sở để xử lý đối với các bị cáo theo Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Căn cứ vào kết quả điều tra, số lần các bị cáo tham gia trộm cắp, giá trị tài sản do các bị cáo chiếm đoạt, nhân thân các bị cáo và các chứng cứ, tài liệu khác do cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố Nguyễn Bá Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điềm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Truy tố Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng mức.

Đây và một vụ án thuộc loại án rất nghiêm trọng, hành vi trộm cắp do bị cáo Nguyễn Bá Đ, Nguyễn Văn S thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh xem thường pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền về tài sản của công dân được nhà nước và pháp luật bảo vệ. Các bị cáo có trình độ văn hóa, có năng lực pháp luật, đầy đủ năng lực hành vi, nên các bị cáo nhận thức, hiểu được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật bắt được sẽ bị xử lý nghiêm minh. Tuy biết vậy nhưng do thích ăn chơi, lười lao động thích thụ hưởng, nên các bị cáo đã liều lĩnh thực hiện hành vi phạm tội, nay phải đứng trước phiên tòa chờ phán quyết của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy rằng cần xử lý nghiêm đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

Bị cáo Nguyễn Bá Đ và Nguyễn Văn S đồng phạm với nhau về tội Trộm cắp tài sản, nhưng việc đồng phạm của các bị cáo là đồng phạm giản đơn, mang tính tự phát. Nhưng nhân thân, mức độ tham gia thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo khác nhau, nên cần phân hóa để xử lý cho phù hợp.

[2] Đối với Nguyễn Bá Đ là đối tượng có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử, đang có hai án tích chưa được xóa án, nay tiếp tục phạm tội, từ đó cho thấy bị cáo là một con người rất khó cải tạo, chứng nào tật đó, ngựa quen đường củ. Bị cáo thực hiện những hành vi trộm cắp tài sản rất tích cực là người khởi xướng, đồng thời là người trực tiếp tiếp trộm cắp, mỗi lần thực hiện hành vi trộm cắp bị cáo đều thể hiện sự tích cực của mình. Xét những hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện và nhân thân thấy rằng cần xử lý bị cáo với hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, bị cáo đầu thú. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội hai lần trở lên qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Lẽ ra xử phạt bị cáo với mức án 42 tháng tù, nhưng xét thấy tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, chỉ xử phạt bị cáo 36 tháng tù là đủ nghiêm.

[3] Đối với Nguyễn Văn S cũng là đối tượng có nhân thân xấu, bản thân lười lao động, thích thụ hưởng, quá trình thực hiện hành vi trộm cắp thể hiện rất tích cực, bị cáo đã từng bị xét xử về tội trộm cắp chưa được xóa án, nay tiếp tục phạm tội, cũng cho thấy rằng bị cáo là con người rất khó cải tạo. Xét hành hành vi bị cáo thực hiện nên cần xử lý nghiêm với hình phạt tương xứng, việc các ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục đối với bị cáo là cần thiết.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, bị cáo đầu thú. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1Điều 51 khoản 2 Điều 51 của bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đang có một án tích chưa được xóa án tích, nay phạm tội là tái phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qui định tại điểm h khoản 1 Điểu 52 của Bộ luật hình sự .

Lẽ ra xử phạt bị cáo với mức án 12 tháng tù, nhưng xét thấy rằng quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, chỉ xử phạt bị cáo với mức án 09 tháng tù cũng đủ nghiêm.

Trong vụ án này, Nguyễn Bá Đ khai đã cùng với Đinh Văn T thực hiện trộm cắp 01 chiếc xe máy của ông Trịnh Văn C. Quá trình điều tra, Đinh Văn T không thừa nhận việc cùng Đ trộm cắp tài sản của ông C, chưa có đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đinh Văn T.

Ngoài ra Nguyễn Bá Đ khai đã cùng với Nguyễn Văn S thực hiện 01 vụ trộm cắp xe máy của anh Phạm Hữu B, sau đó Nguyễn Bá Đ đã nhờ Bùi Văn T bán 01 chiếc xe máy mà Nguyễn Bá Đ và Nguyễn Văn S trộm cắp. Quá trình xác minh, điều tra hiện Bùi VănTrí không có mặt tại địa phương, chưa đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự với Bùi VănTrí, khi nào đối tượng có mặt điều tra làm rỏ, xử lý sau.

Quá trình điều tra Nguyễn Bá Đ và Nguyễn Văn S còn khai nhận thêm trong thời gian tháng 7 năm 2018 còn thực hiện 04 vụ trộm cắp xe máy khác. Do chưa xác định được bị hại trong vụ án nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành chưa khởi tố vụ án, khởi tố bị can, khi nào xác định được các bị hại sẽ tiến hành xử lý theo qui định.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Chiếc xe máy do bị cáo Nguyễn Bá Đ, Bùi Văn T trộm cắp của bà Thái Thị H không thu hồi được, bà H yêu cầu bị cáo bồi thường theo kết quả định giá là có cơ sở. Tại phiên tòa Nguyễn Bá Đ chấp nhận bồi thường cho bà H, nên buộc Nguyễn Bá Đ bồi thường cho bà Thái Thị H số tiền 10.500.000đ(Mười triệu năm trăm nghìn đồng). Xe máy của anh Phạm Hữu B không thu hồi được, quá trình điều tra, tại phiên tòa anh B không yêu cầu bị cáo bồi thường nên miễn xét. Xe máy của ông Trịnh Văn C đã được thu hồi trả lại, ông Chín không yêu cầu gì thên nên miễn xét.

[5] Vật chứng: Quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra chỉ thu giữ được xe máy của ông Trịnh Văn C, 02 chiếc xe máy còn lại không thu hồi được.

Xe máy của ông Trịnh Văn C được cơ quan điều xử lý trả lại cho chủ sở hữu trong giai đoạn điều tra là đúng.

Đối với vật chứng 01 chiếc vam phá khóa chữ T mà Nguyễn Bá Đ khai dùng làm phương tiện phá khóa những xe máy để trộm cắp, quá trình điều tra Đ khai đã làm mất, không thu hồi được nên không có căn cứ để xử lý đối với vật chứng này.

[6] Án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá Đ 03 (ba) năm về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam đối với bị cáo (Ngày 30/12/2018).

2.Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều và điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam đối với bị cáo (Ngày 06/01/2019).

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 589 của Bộ luật dân sự.

Buộc: Nguyễn Bá Đ phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà Thái Thị H số tiền 10.500.000đ(Mười triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bà Thái Thị H có đơn yêu cầu thi hành án, Nguyễn Bá Đ không thi hành khoản tiền trên cho bà Thái Thị H thì hàng tháng phải chịu thêm khoản lãi suất, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước qui định tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

4. Về Án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Buộc Nguyễn Bá Đ, Nguyễn Văn S mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc: Nguyễn Bá Đ phải nộp 525.000đ(Năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, những người bị hại có mặt được quyền kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do tòa án tống đạt.

Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự”.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 56/2019/HSST ngày 29/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:56/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Thành - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về