Bản án 57/2017/HNGĐ-ST ngày 28/09/2017 về xin ly hôn có yếu tố nước ngoài

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 57/2017/HNGĐ-ST NGÀY 28/09/2017 VỀ XIN LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Ngày 28 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2016/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2016 về việc xin ly hôn có yếu tố nước ngoài.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 60/2017/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1986. Địa chỉ: Ấp KQB, xã VK, huyện AM, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Tran Thanh L, sinh năm: 1965. Địa chỉ: 149 OAK ST FOXBORO MA 02035 USA (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 15/5/2016 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:

Bà và ông Tran Thanh L quen biết nhau là do mai mối của người Dì vào năm200 6. Đến tháng 4/2008, ông bà tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới tại nhà bà và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 04/4/2008, vào sổ đăng ký kết hôn số 148, quyển số 01 ngày 09/4/2008. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống với nhau khoảng nửa tháng, thì ông L trở về Hoa Kỳ. Thời gian đầu hai bên vẫn giữ liên lạc thường xuyên. Khoảng nửa năm sau khi kết hôn, ông L tiến hành làm thủ tục bảo lãnh bà, nhưng do việc phỏng vấn không thành công, nên không bảo lãnh được. Cũng từ đó, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hợp nhau, hay cải vã và không còn liên lạc cho đến nay.

Bà nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được hạnh phúc. Hiện nay, ông bà không còn liên lạc với nhau, nên bà yêu cầu xin ly hôn với ông L để ổn định cuộc sống mới.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình chung sống bà và ông Liem không có con chung, không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp cho Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hoa Kỳ để giao Thông báo thụ lý vụ án, đồng thời lấy lời khai của ông Tran Thanh L theo địa chỉ của bà M cung cấp tại 149 OAK ST FOXBORO MA 02035 USA về việc bà Nguyễn Thị M xin ly hôn theo quy định của pháp luật, nhưng ông L không đến nhận thông báo và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà M.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Về thẩm quyền xét xử, do vụ án có đương sự là ông Tran Thanh L là người nước ngoài, nên Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn là ông Tran Thanh L, mặc dù Tòa án đã thực hiện đầy đủ hợp lệ việc ủy thác tư pháp về tống đạt văn bản tố tụng cho ông L, nhưng ông L không có hồi âm và không nhận hồ sơ tống đạt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông L là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà M: Do bà M và ông L mất liên lạc đã lâu, ông bà không có thời gian chung sống và hai bên không còn tình cảm, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà M. Về con chung, tài sản chung các bên không yêu cầu, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Tran Thanh L đã được Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp cho Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hoa Kỳ thực hiện việc tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và lấy lời khai của đương sự theo quy định tại Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP- BNG-TANDTC ngày 15 tháng 9 năm 2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa n nhân dân tối cao về việc “Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật tương trợ tư pháp”. Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại San Francisco, Hoa Kỳ đã có biên bản xác nhận kết quả tống đạt hồ sơ ủy thác tư pháp ngày 06/12/2016 đã gửi Thông báo cho ông Tran Thanh L theo đề nghị của Tòa án, nhưng đương sự không có trả lời và đã niêm yết nội dung ủy thác tại trụ sở Tổng lãnh sự quán sau ba tháng kể từ ngày gửi Thông báo, nhưng đương sự không đến nhận hồ sơ tống đạt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 15, Điều 17 Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 15 tháng 9 năm 2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao, Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn ông Tran Thanh L.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M và ông Tran Thanh L tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 04/4/2008, vào sổ đăng ký kết hôn số 148, quyển số 01 ngày 09/4/2008 là phù hợp với quy định tại Điều 9, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng đối với hôn nhân của bà M và ông L, thì ông, bà sống xa nhau và không có điều kiện gặp nhau, nên không duy trì được mối quan hệ vợ chồng. Hiện tại ông, bà cũng không còn liên lạc với nhau từ năm 2008 và tình cảm không còn, nên ông, bà không thể xây dựng được gia đình hạnh phúc. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân của bà M và ông L không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, cho bà M được ly hôn với ông L theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống bà M và ông L không có con chung, nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà M không có yêu cầu và ông L không có ý kiến, nên không xem xét.

[5] Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 8 Điều 27, khoản 1 mục I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 về án phí, lệ phí Tòa án.

Bà Nguyễn Thị M phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.

[5] Về chi phí tố tụng khác: Chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài 150.000 đồng theo biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0012504 ngày 25/5/2016; 150.000 đồng theo biên lai thu tiền phí, lê phí số 0012573 ngày 17/01/2017 của Cơ quan Thi hành dân sự tỉnh Kiên Giang (Do ông Trần Văn S nộp thay); 95 USD chuyển vào tài khoản của Công ty ABC legal Services và các khoản phí đóng cho Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Kiên Giang.

Căn cứ khoản 3 Điều 153 Bộ luật tố tụng dân sự, bà Nguyễn Thị M phải nộp và đã thực hiện xong.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 153, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 3 Điều 474, điểm b khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 8 Điều 27, khoản 1 mục I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 về án phí, lệ phí Tòa án; điểm b, khoản 1 Điều 15, Điều 17 Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG- TANDTC ngày 15 tháng 9 năm 2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao về việc “Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật tương trợ tư pháp”

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Tran Thanh L.

2. Về quan hệ con chung: Bà M và ông L không có con chung, nên không xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị M không có yêu cầu và ông L không có ý kiến, nên không xem xét.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 200.000 đồng, khấu trừ 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà M đã nộp theo biên lai thu tiền án phí, lệ phí số 0004935 ngày 18 tháng 5 năm 2016 của Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang (Do ông Huỳnh Dũng L nộp thay).

5. Chi phí tố tụng khác : Chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài 150.000 đồng theo biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0012504 ngày 25/5/2016; 150.000 đồng theo biên lai thu tiền phí, lê phí số 0012573 ngày 17/01/2017 của Cơ quan Thi hành dân sự tỉnh Kiên Giang (Do ông Trần Văn S nộp thay); 95 USD chuyển vào tài khoản của Công ty ABC legal Services và các khoản phí đóng cho Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Kiên Giang. Bà Nguyễn Thị M phải nộp và đã thực hiện xong.

6. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị M có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (28/9/2017) để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao xét xử lại bản án theo thủ tục phúc thẩm.

Riêng ông Tran Thanh L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


431
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!