Bản án 57/2018/HNGĐ-ST ngày 27/11/2018 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 57/2018/HNGĐ-ST NGÀY 27/11/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh T Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 119/2018/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2018 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2018/QĐXX - ST ngày 06/11/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2018/QĐ – HPT ngày 21/1/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1960; có mặt.

Địa chỉ: thôn 7, xã V, huyện K, tỉnh T Bình

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1958; vắng mặt.

Địa chỉ: thôn 8, xã V, huyện K, tỉnh T Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/7/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Vũ Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị N và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn vào ngày 12/01/1981 tại UBND xã V, huyện K, tỉnh T Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ anh T ở thôn 7, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình được 01 năm thì chuyển về sinh sống tại nhà bố mẹ chị N ở thôn 7 xã V và sinh được 02 con. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 1996 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm về định hướng việc học cho các con. Đến năm 2001 anh T có quan hệ với người phụ nữ khác, cuộc sống vợ chồng rạn nứt. Năm 2002 chị N cùng hai con lên Hà Nội làm thuê để kiếm sống còn anh T cũng đi làm thợ xây tại Hải Phòng và không quan tâm đến chị và các con, vợ chồng anh chị ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

- Về quan hệ con chung: Chị N và anh T có 02 con chung là Nguyễn Văn H sinh ngày 05/01/1982 và Nguyễn Thành N sinh ngày 27/5/1989 , hiện nay các cháu đã trưởng thành nên chị N không yêu cầu Tòa an giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng chị N không có tài sản chung, không vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 20/11/2018, bị đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày: vợ chồng anh đã ly thân 18 năm nay và anh đang làm thuê ở Hải Phòng. Vợ chồng anh có 02 con chung là Nguyễn Thành N, sinh ngày 27/5/1989 và Nguyễn Văn H sinh ngày 05/01/1982 hiện nay đã trưởng thành. Về tài sản chung vợ chồng anh không có gì để Tòa giải quyết, vợ chồng anh không nợ tập thể hay bẹn bè anh em gì. Anh làm đơn xin Tòa xét xử vắng mặt, cho anh và chị N được ly hôn.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình có quan điểm cho rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng không những tự tước bỏ quyền, nghĩa vụ của mình mà còn thể hiện ý thức chấp hành pháp luật tố tụng dân sự không nghiêm túc, đầy đủ. Về ý kiến giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận cho chị N được ly hôn anh T.

Về quan hệ con chung: không đặt ra giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phíTòa án, chị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

 NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]- Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn. Ngày 20/11/2018 bị đơn có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ để làm rõ tình trạng hôn nhân, tài sản chung vợ chồng, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng với quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Vũ Thị N kết hôn với anh NguyễnVăn T trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện K tỉnh Thái Bình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn theo chị N là do bất đồng quan điểm sống về định hướng việc học cho các con, anh T có tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm và không có trách nhiệm với gia đình. Nay chị N xin ly hôn và anh T cũng đồng ý ly hôn vì cả hai vợ chồng đều cảm thấy không còn tình cảm gì với nhau nữa. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị N và anh T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải chấp nhận xử cho chị N được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về quan hệ con chung: Chị N và anh T có 02 con chung là Nguyễn Văn H sinh ngày 05/01/1982 và Nguyễn Thành N sinh ngày 27/5/1989, hiện đã trưởng thành nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[5] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2. Về quan hệ con chung: Không đặt ra giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Vũ Thị N phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0001089 ngày 31/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh T Bình. Chị Vũ Thị N đã nộp xong án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyển kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


56
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2018/HNGĐ-ST ngày 27/11/2018 về ly hôn

Số hiệu:57/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kiến Xương - Thái Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 27/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về