Bản án 57/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về yêu cầu ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

BẢN ÁN 57/2019/HNGĐ-ST NGÀY 08/05/2019 VỀ YÊU CẦU LY HÔN

Ngày 08 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện XM, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân – gia đình thụ lý số: 72/2019/TLST-HNGĐ ngày: 22/02/2019, về việc: “Yêu cầu ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày: 04/4/2019, Quyết định hoãn phiên toà số: 41/2019/QĐST-HNGĐ ngày 17/4/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Phan Thị Hồng N, sinh năm: 1991 – ( Có mặt ).

HKTT: số nhà 455/19, khu phố 1, phường PN, TP Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị đơn: Phạm Minh L, sinh năm: 1987 – ( Có mặt ).

HKTT: ấp NĐ, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 13/02/2019, bản khai ngày 22/3/2019, biên bản hoà giải ngày 22/3/2019, biên bản hoà giải ngày 03/4/2019 tại Tòa án và tại phiên tòa. Nguyên đơn chị Phan Thị Hồng N trình bày: chị N kết hôn với anh L vào tháng 4/2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, có tổ chức lễ cưới, trước lúc kết hôn có tìm hiểu nhau, gia đình hai bên đều biết và đồng ý. Việc kết hôn của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, không có ai mai mối, ép buộc.

Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc được đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L không lo làm ăn mà sa vào rượu chè, nhậu nhẹt. Mặc dù chị N đã góp ý nhiều lần nhưng anh L không tiếp thu để sửa chữa. Năm 2014 anh L vi phạm pháp luật phải chấp hành hình phạt tù nên từ đó cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân nhau, hai bên không còn quan hệ gì với nhau nữa cả về tình cảm lẫn kinh tế.

Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị N yêu cầu ly hôn với anh L.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Tại phiên toà hôm nay chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh L. Về con chung: không có. Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Theo bản khai ngày 21/3/2019, biên bản hoà giải ngày 22/3/2019, biên bản hoà giải ngày 03/4/2019 tại Tòa án và tại phiên tòa. Bị đơn anh Phạm Minh L trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn anh L công nhận đúng như chị N đã trình bày.

Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L vi phạm pháp luật phải thi hành án. Năm 2018 anh L thi hành án xong thì chị N tránh mặt anh L và làm đơn yêu cầu ly hôn.

Nay chị N yêu cầu ly hôn thì anh L không đồng ý ly hôn với chị N.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Tại phiên toà hôm nay anh L vẫn giữ nguyên ý kiến: không đồng ý ly hôn với chị N.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: chị Phan Thị Hồng N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị N ly hôn với anh Phạm Minh L. Đây là tranh chấp về yêu cầu ly hôn, theo quy định tại khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đại diện Viện kiểm sát có thông báo không tham gia phiên toà ( Bút lục số: 20 ), nên áp dụng Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt Đại diện Viện kiểm sát.

[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị N và anh L là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, gia đình hai bên đều đồng ý, trước lúc kết hôn có tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định ( Bút lục số: 05 ) nên là hôn nhân hợp pháp.

Về mâu thuẫn vợ chồng mỗi bên trình bày một nguyên nhân khác nhau, nhưng đều thừa nhận có mâu thuẫn vợ chồng. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2014 cho đến nay, hai bên không còn quan hệ gì với nhau nữa cả về tình cảm lẫn kinh tế ( Bút lục số: 12,13,16 ). Điều đó chứng tỏ giữa chị N và anh L không còn yêu thương, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau. Làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trên thực tế thì năm 2014 cho đến nay hai bên cũng không còn duy trì quan hệ hôn nhân với nhau nữa. Do đó, mặc dù anh L không đồng ý ly hôn với chị N, nhưng việc chị N yêu cầu ly hôn với anh L là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu của chị N. Về hôn nhân chị N được ly hôn với anh L.

[3] Về con chung: cả hai bên đều thừa nhận không có con chung ( Bút lục số: 12,13,16,18 ).

[4] Về tài sản chung và nợ chung: cả chị N và anh L đều thừa nhận không có tài sản chung và nợ chung ( Bút lục số: 12,13,16,18 )..

[5] Về án phí: Do là nguyên đơn nên chị N phải chịu án phí theo quy định. Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 21; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Hồng N đối với anh Phạm Minh L.

[1] Về hôn nhân: chị Phan Thị Hồng N được ly hôn với anh Phạm Minh L.

[2] Về con chung: không có.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: không có.

[4] Về án phí: chị N phải nộp 300.000Đ ( Ba trăm ngàn ) án phí HNGĐST nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000Đ ( Ba trăm ngàn ) mà chị N đã nộp theo biên lại thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0006632 ngày 22/02/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện XM. Chị N đã nộp đủ án phí.

[5] Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.


16
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 57/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về yêu cầu ly hôn

      Số hiệu:57/2019/HNGĐ-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Xuyên Mộc - Bà Rịa - Vũng Tàu
      Lĩnh vực:Dân sự
      Ngày ban hành:08/05/2019
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về