Bản án 57/2019/HNGĐ-ST ngày 19/08/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 57/2019/HNGĐ-ST NGÀY 19/08/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 19 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 441/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; hộ khẩu thường trú: Thôn Thạnh Mỹ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; tạm trú: 03A/5E khu phố B, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1977; hộ khẩu thường trú: Thôn Thạnh Mỹ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; tạm trú: 9D7/8E khu phố Đ, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà H và ông S tự nguyện tìm hiểu, tiến đến quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định vào năm 2014. Thời gian chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến vợ chồng thường hay gây gỗ, cãi vã nhau. Ông S không lo làm ăn để lo lắng cho cuộc sống gia đình mà thường xuyên uống rượu, bia về quậy phá, đánh đập vợ con; mọi chi phí sinh hoạt trong cuộc sống gia đình và chi phí lo cho con học tập đều do một mình bà H phải tự lo. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2017 cho đến nay. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn và mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 17/4/2015 và từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay thì bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quốc Đ.

Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Thị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Quốc Đ. Bà H tự nguyện không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập ông S đến Tòa án tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn S đều vắng mặt không rõ lý do.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng của người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn S, đồng thời ông Sơn đang đăng ký tạm trú và sinh sống tại địa chỉ 9D7/8E khu phố Đ, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; đồng thời về tài sản và nợ chung không tranh chấp. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3]. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn S được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa xét xử lần thứ 2 nhưng đều vắng mặt không rõ lý do; nguyên đơn bà H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn bà H và bị đơn ông S, xem như ông S từ bỏ quyền chứng minh.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn S tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý , tỉnh Nam Định vào năm 2014 nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông S là hợp pháp.

Theo biên bản xác minh tại chính quyền địa phương mà bà H và ông S khi còn sống chung với nhau và sổ đăng ký tạm trú của bà H thể hiện trong thời gian bà H và ông S chung sống có phát sinh mâu thuẫn, gây gỗ, cãi vã, lớn tiếng với nhau và bà H có trình báo cho chính quyền địa phương; đồng thời vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2017. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông S đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.

[2.2] Về con chung: Trong thời gian chung sống, ông bà H và ông S có 01 con chung tên Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 17/4/2015. Bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu Nguyễn Quốc Đ còn nhỏ (04 tuổi) chưa thể tự chăm sóc cho bản thân nên cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của bà H hơn và hiện nay cháu Đ đang do bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển về mọi mặt của cháu Đ, Hội đồng xét xử giao con chung tên Nguyễn Quốc Đ cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp sau này các đương sự có tranh chấp về người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cũng như mức cấp dưỡng nuôi con thì có thể yêu cầu Toà án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn ông Nguyễn Văn S về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 17/4/2015 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp theo Biên lai thu số 0035011 ngày 09/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2019/HNGĐ-ST ngày 19/08/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:57/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về