Bản án 58/2017/HSST ngày 21/06/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 58/2017/HSST NGÀY 21/06/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 

Ngày 21 tháng 6 năm 2017; Tại Nhà văn hóa xã T M, huyện V H, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2017/HSST ngày 19 tháng 5 năm 2017, đối với bị cáo sau:

Họ và tên: Hờ A D (Tên gọi khác: Hờ A B) - Sinh năm 1978; Dân tộc: Mông;

Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: Không; Nơi ĐKHKTT: Bản P C, xã T L, huyện M C, tỉnh Sơn La;

Chỗ ở: Bản P K, xã L L, huyện V H, tỉnh Sơn La; Trình độ văn hoá: Không biết chữ;

Con ông Hờ A T và bà Tráng Thị M (Đều đã chết); Bị cáo có vợ là Hàng Thị D, sinh năm 1977 và 04 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 30/7/2012, bị UBND huyện M C Quyết định cưỡng chế người nghiện ma túy vào chữa trị, giáo dục, lao động tại Trung tâm giáo dục lao động huyện M C, tỉnh Sơn La, thời gian 24 tháng; Ngày 04/7/2014, bị UBND huyện M C áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại Trung tâm giáo dục, lao động tỉnh Sơn La thời gian 24 tháng. Ngày 03/3/2015, Hờ A D bỏ trốn khỏi Trung tâm giáo dục, lao động.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28 tháng 02 năm 2017 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

NHẬN THẤY

Bị cáo Hờ A D bị Viện kiểm sát nhân dân huyện V H truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 16 giờ 30 phút, ngày 28/02/2017, tổ công tác Công an huyện V H cùng các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại Bản L L, xã L L, huyện V H, tỉnh Sơn La kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Hờ A D (Tên gọi khác: Hờ A B) - sinh năm 1978; Trú tại: Bản P C, xã TL, huyện MC, tỉnh Sơn La có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ của Hờ A D là 01 gói nilon màu xanh, bên trong đựng chất bột màu trắng, D khai nhận là Hêrôin. Hờ A D bị dẫn giải cùng vật chứng về Cơ quan Công an huyện V H để điều tra làm rõ.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy, đang bị áp dụng biện pháp giáo dục lao động bắt buộc tại Trung tâm giáo dục lao động tỉnh Sơn La. Khoảng tháng 3/2015, Hờ A D đã bỏ trốn khỏi Trung tâm, lẩn trốn tại khu vực bản P K, xã L L, huyện V H. Khoảng 14h00’ ngày 28/02/2017, D đi bộ từ bản P K, xã LL, huyện V H đến bản L L, xã L L, huyện V H để tìm việc làm thuê. Tại đường dân sinh bản L L, D gặp 01 người phụ nữ dân tộc Mông, không biết tên, địa chỉ, khoảng 60 tuổi đang sử dụng ma túy tại bụi cây ven đường. D đến hỏi xin ma túy của người phụ nữ này để sử dụng, người phụ nữ này đã đưa cho D 01 gói Hêrôin gói bằng nilon màu xanh. D cầm trong lòng bàn tay trái và đi bộ trên đường thì gặp tổ công tác Công an huyện V H đang làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện và bắt giữ.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, tiến hành mở niêm phong và cân tịnh gói bột màu trắng thu của Hờ A D có trọng lượng là 0,55 gam, lấy 0,26 gam, kí hiệu “D1” gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.

Tại bản kết luận điều tra số 303/KLMT ngày 03/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu “D1” là chất ma túy; loại chất Hêrôin. Trọng lượng gửi mẫu giám định là 0,26 gam.Tổng trọng lượng của chất ma túy thu giữ được là 0,55 gam. Loại chất Hêrôin”

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên căn cứ vào bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 18/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V H, đề nghị HĐXX xem xét:

- Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS, xử phạt: Hờ A D từ 24 đến 30 tháng về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không phạt bổ sung với bị cáo:

- Áp dụng các điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng 0,29 gam Hêrôin và vỏ gói niêm phong ban đầu.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến ca Kiểm sát viên, b cáo.

XÉT THẤY

Ngày 28/02/2017, Hờ A D bị phát hiện và bắt quả tang tàng trữ 0,55 gam Hêrôin nhằm sử dụng là đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, tàng trữ trái phép chất ma túy, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng an ninh, trật tự địa phương. Như vậy, việc truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Cần phải bị xử phạt nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. 

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số trình độ nhận thức hạn chế. Nên sẽ được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Điều 194 Bộ luật hình sự 1999. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy.

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 249 Bộ luật hình sự 2015. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

So sánh hai điều luật của hai Bộ luật cho thấy, điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định hình phạt nhẹ hơn so với điều 194 của Bộ luật hình sự 1999.

Căn cứ vào khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự 2015; điểm b khoản 1 điều 1 Nghị quyết 109 ngày 27/11/2015 của Quốc Hội về thi hành Bộ luật hình sự 2015 ; điểm a khoản 4 điều 1 Nghị quyết số 144 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội về việc lùi thi hành Bộ luật hình sự 2015 thì : « Điều luật quy định một hình phạt nhẹ hơn...có lợi hơn cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành ».

Như vậy, áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cân nhắc tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, nhưng vẫn đảm bảo răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Về phạt bổ sung: Bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản giá trị, không có khả năng thi hành, nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong đựng 0,29 gam Hêrôin và vỏ niêm phong ban đầu là những vật cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.

Về nguồn gốc chất ma túy: Người đàn bà dân tộc Mông không rõ, tên, địa chỉ đã cho bị cáo gói Hêrôin. Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hờ A D (Tên gọi khác: Hờ A B) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Áp dng khon 1 Điều 194, điểm p khon 1, khon 2 Điu 46 Bộ lut nsự.

Xử pht: H A D 27 tháng tù. Thời gian chp hành hình pht tù tính t ngày 28/02/2017.

Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng 0,29 gam Hêrôin và vỏ niêm phong ban đầu.

Toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận tang vật – vật chứng số 51 ngày 23 tháng 5 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V H.

3. Về án phí: Áp dụng điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị o quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.


109
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về