Bản án 58/2018/HNGĐ-ST ngày 10/05/2018 về không công nhận vợ chồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 58/2018/HNGĐ-ST NGÀY 10/05/2018 VỀ KHÔNG CÔNG NHẬN VỢ CHỒNG

Ngày 10 tháng 5 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 222/2018/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2018 về việc không công nhận vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2018/QĐXX-ST ngày 20 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng M, sinh năm 1997 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã PT, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn: Anh Trần Khang K, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp TTĐ, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Tại đơn khởi kiện ngày 09/3/2018 và tại phiên tòa chị Nguyễn Hồng M trình bày:

Chị M và anh Trần Khang K tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian chung sống do bất đồng quan điểm nên phát sinh mâu thuẫn, cự cãi nhau nên chị M và anh K không còn chung sống với nhau từ ngày 25/4/2016 đến nay. Do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M yêu cầu chấm dứt mối quan hệ với anh K.

Con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên chị M không yêu cầu giải quyết.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến khi xét xử tuân thủ đúng theo quy định.

Về nội dung: Tại hồ sơ vụ án thể hiện chị M và anh K chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn là chưa tuân thủ đúng quy định pháp luật. Do đó, áp dụng Điều 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận chị M và anh K là vợ chồng. Con chung, tài sản chung, nợ chung không có nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn là chị Nguyễn Hồng M khởi kiện với bị đơn là anh Trần Khang K. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc không công nhận vợ chồng; Anh K có nơi cư trú tại ấp TTĐ, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có thông báo thụ lý và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và có tống đạt hợp lệ cho anh K nhưng anh K không có văn bản ý kiến đối với yêu cầu của chị M và vắng mặt tại phiên họp, hòa giải không có lý do. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử và có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng này cho anh K nhưng anh K cũng không tham dự. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh K theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Hồng M và anh Trần Khang K tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015, có tổ chức lễ cưới nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh K chưa tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống anh chị có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng anh chị không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 luật Hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận chị Nguyễn Hồng M và anh Trần Khang K là vợ chồng.

[4] Về con chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị M xác định thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về nợ chung: Chị M xác định anh chị không có nợ chung, vợ chồng không có nợ người ngoài và người ngoài cũng không nợ vợ chồng; Tại đơn xác nhận ngày 12/3/2018 của Ủy ban nhân dân xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau đã xác nhận thời gian chị M và anh K chung sống với nhau tại địa phương không bị ai thưa kiện về nợ. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Hồng M phải chịu án phí – Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 14, 53 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Hồng M và anh Trần Khang K là vợ chồng.

2.Về con chung: Không có.

3.Về tài sản chung và nợ chung: Không có. 4.Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Hồng M phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 12 tháng 3 năm 2018 chị M có dự nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005329 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thới Bình nay được chuyển thu án phí.

5.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh K vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 58/2018/HNGĐ-ST ngày 10/05/2018 về không công nhận vợ chồng

Số hiệu:58/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về