Bản án 58/2019/DS-PT ngày 30/08/2019 về tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 58/2019/DS-PT NGÀY 30/08/2019 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI SỨC KHỎE

Ngày 30 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2019/TLPT-DS ngày 26 tháng 7 năm 2019 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2019/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 57/2019/QĐ-PT ngày 15 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị D - Sinh năm 1963, có mặt.

Địa chỉ: Thôn B 2, xã H ,huyện Thiệu Hóa,Thanh Hoá.

2. Bị đơn: Ông Đinh Văn H - Sinh năm 1970, có mặt.

Bà Lê Thị L - Sinh năm 1972, có mặt.

Cùng địa chỉ:Thôn B, xã H , huyện Thiệu Hóa,Thanh Hoá.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 02/04/2019 và quá trình tố tụng nguyên đơn là bà Đỗ Thị D trình bày:

Vào ngày 15/9/2018, bà vào nhà mẹ đẻ bà để thắp hương cho mẹ, thì gặp gia đình ông H cũng đang có mặt tại nhà mẹ bà, nơi thờ cúng của bố, mẹ bà. Nguyên nhân dẫn đến hai bên xô sát nhau cũng vì ông Đinh Văn H giật tấm bằng Tổ quốc ghi công và ảnh thờ của bố bà đập nát, bẻ gẫy đổ xuống sông. Vì mẹ bà mới mất bà lên thắphương cho mẹ bà, bà mới biết và nói với ông H tại sao ông quá đáng như vậy thì ông H hung hăng cầm con dao găm chỉ vào người bà và nói tao đâm chết mẹ hắn đi, vợ ông H giật con dao xô ông H về, lúc đó vợ ông H quay lại đi vào nhà mẹ bà cầm bó hương, bà nói hương này tau mua để tao thắp cho mẹ tau, bay muốn thắp thì mua lấy mà thắp. Ông H không biết sấp ngửa thế nào cầm liền nửa đoạn ngọ tre đập bà tới tấp, khi gẫy gậy ông H lại lấy các trà dong tre gộp 3 cái chụp lại để đánh bà liên tiếp gây thương tích cho bà ở hai cánh tay, ở hông, ở mông và ở chân. Khi ông H đánh bà không chống cự được lúc đó bà thấy một ít cát ở trong túi bóng nên bà cúi xuống bốc để phả vào mặt ông H nhằm mục đích để ông H không đánh bà nữa nhưng ông H cao to nên cát không tới mặt ông H . Lúc ông H đánh bà thì bà L và anh P con trai ông H có đứng chứng kiến nhưng không can ngăn mà bà L và anh P còn xông vào lôi kéo, đánh bà vào mông, sau đó túm tay, túm chân bà kéo lê ra ngoài ngõ, đến bức tường gần sân bước ra ngõ thì hai mẹ con dằn bà xuống cạnh bờ sân tường nên bà đã bị núng một đốt sống lưng, cạnh hông bên phải bị rách chảy máu, sau đó bà L và anh P lại kéo lê bà ra đường và ném bà xuống đường bê tông, khi bà ngồi dậy và nói nhà tau với mẹ tau làm nhà bay có mất cho tau 5 xu, một hào mà mày tranh, thì bà L lại túm tóc bà đập xuống đường bê tông tiếp. Lúc đó có vợ anh D người cùng xóm can ngăn bà L mới buông bà ra và bà đứng dậy đi vào nhà lấy cái nón thì thấy ông H dùng chân dẫm nát cái nón nên bà khóc mẹ bà và bà L lôi bà ra khỏi nhà mẹ của bà, bà không đi vợ ông H lại túm tóc và đập đầu bà vào cây cột hè lúc đó có cháu Lê Văn Lượng can ngăn, ông H còn nói không phải can đánh chết hắn đi, con trai ông H túm tay bà, bà L ngồi lên bụng bà cứ túm tóc đập đầu xuống gạch và thúc ngược lên liên tiếp bả vào mặt bà làm mặt bà bầm tím.

Đến khi chồng bà nghe tin bà bị gia đình ông H đánh, chồng bà đến và đưa bà vào Công an xã báo cáo sự việc yêu cầu Công an xã H giải quyết. Khi đang lấy lời khai thì bà bị ngất xỉu nên mọi người đưa bà đến Trạm y tế xã H để sơ cứu. Đến 14 giờ ngày 15/9/2018 thì Trạm y tế xã chuyển bà xuống bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa cấp cứu, chụp chiếu. Hậu quả bà bị chấn thương sọ não, điều trị được 3 ngày do Bệnh viện quá tải nên chuyển bà về Bệnh viện huyện Thiệu Hóa điều trị tiếp nhưng bà xin về Trạm y tế xã điều trị, sau mấy ngày hết thuốc giảm đau thì đầu bà phát đau giữ dội nên bà lại chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa điều trị tiếp.

Trong quá trình điều trị ở các bệnh viện từ ngày 15/9/2018 đến ngày 27/11/2018 bà đã xin đi giám định thương tích và đã mất 2% sức khỏe.

Bà khẳng định ông H , bà L đã gây thương tích cho bà. Nhưng suốt thời gian bà điều trị thương tích ông H , bà L không hề thăm hỏi hay bồi thường cho bà mà còn có thái độ thách thức. Bà đã phải bỏ toàn bộ chi phí để điều trị vết thương cụ thể như sau:

- Hóa đơn bán lẻ ngày 15/10/2018 = 1.520.000đ - Hóa đơn bán lẻ ngày 04/10/2018 = 1.320.000đ.

- Phiếu chụp cộng hưởng từ sọ não ngày 27/11/2018 = 1.800.000đ.

- Hóa đơn thu viện phí ngày 27/11/2018 = 350.000đ.

- Hóa đơn bán hàng ngày 22/10/2018 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa = 2.335.337đ.

- Hóa đơn ngày 17/9/2018 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa = 170.326đ.

- Hóa đơn tiền thuốc ngày 10/10/2018 = 792.500đ - Hóa đơn thuốc tại trạm y tế ngày 19/9/2018 = 1. 740.000đ.

- Hóa đơn ngày 22/10/2018 = 818.000đ.

- Phiếu thu khám chữa bệnh = 730.000đ.

- Phiếu thu khám chữa bệnh tại Bệnh viện Bạch Mai = 1. 754.000đ.

- Hóa đơn bán lẻ ngày 01/12/2018 = 1.813.000đ

- Tiền thuê xe đi từ nhà đến Bệnh viện đa khoa Thanh Hóa = 2.000.000đ.

- Tiền xe từ nhà ra Bệnh viện Bạch Mai = 3.500.000đ.

- Tiền phòng trọ cho 3 mẹ con ở từ ngày 11/11/2018 đến 16/11/2018 = 3.200.000đ.

- Tiền xe đi lại và ăn tiêu khi đi giám định tại Viện khoa học hình sự = 4.500.000đ.

- Tiền bồi thường tổn thất tinh thần 10 tháng lương cơ bản = 1.390.000đ x 10 tháng = 13.000.000đ.

- Tiền mất thu nhập của tôi trong 45 ngày mỗi ngày 200.000đ = 45 ngày x 200.000đ/ ngày = 9.000.000đ.

- Tiền công người chăm sóc 1 người 45 ngày mỗi ngày 200.000đ = 45 ngày x 200.000đ/ ngày = 9.000.000đ.

Tổng cộng toàn bộ chi phí tôi bỏ ra đi điều trị = 60.753.000đ. ( Sáu mươi triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Nay bà đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Đinh Văn Hà và bà Lê Thị L phải bồi thường toàn bộ số tiền trên cho bà.

Bị đơn là ông Đinh Văn Hà và bà Lê Thị L trình bày: Vào hồi 8 giờ ngày 15/9/2018, tại gia đình ông bà, hôm đó bà L đang thắp hương xin thần linh để làm chuồng vịt, thì bà D vào nhà không cho bà L thắp hương. Vì giữa ông bà và gia đình bà D đang có mâu thuẫn về đất. Nguồn gốc mảnh đất ông bà mua mà bà D đang cho rằng là của mẹ bà để lại là không đúng. Ông bà mua của ông Đỗ Hữu Quang và bà Đỗ Thị Hương mua vào tháng 05/2012 vợ chồng ông bà đã sang tên đổi chủ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc đất này là của bà Đinh Thị Tuy (mẹ đẻ ra bà D ) là mẹ vợ ông Q bán lại cho ông Quang, ông Q bán lại cho gia đình ông bà nên giữa ông bà và bà D không có liên quan gì về đất. Bà D đã nhiều lần vào gia đình ông bà quậy phá chửi bới nhưng lần này bà D và bà L to tiếng với nhau, bà D liên tục xúc phạm chửi bới gia đình ông bà, ông bà có nghe thấy con trai là anh P chạy về nhà trong bảo bà D chửi bới thì ông H có nói với con trai bảo “mẹ con bay đưa bà D ra khỏi khu đất của nhà”, khi đó ông đang ở nhà trong cùng với cháu Lượng. Lúc đó bà D vẫn ngồi trong nhà ông bà chửi bới thì ông H có sang nói “Đất ở mô(đâu) mà mi (mày) tranh, mi (mày) vô (vào) trong xã mà tranh” thì bà D cầm cát để sẳn ở trong nón hắt vào mặt ông H và tát vào mặt ông H làm ông H chảy máu, khi đó do ông H không nhìn thấy gì nên đã có cầm roi quất vào chân bà D mấy cái và đi sang hàng xóm rửa mắt cùng lúc đó ông H nói với con trai và bà L là đưa bà D ra khỏi khu đất của gia đình và ông H đi sang nhà rửa mặt không chứng kiến sự việc tiếp theo.

Ý kiến trình bày bổ sung của bà L: Khi ông H nói đưa bà D ra khỏi khu đất thì bà và con trai bà khiêng hai tay hai chân bà D ra khỏi nhà, bà D lại chạy vào tiếp, thì chị và bà D lại túm tóc nhau ở trong sân ra ngoài đường. Sự việc khi hai bên túm nhau xảy ra khoảng 5 đến 10 phút. Sau đó được mọi người can ngăn thì hai bên không túm nhau nữa, ông chồng bà D có cầm kéo vào gia đình nhà bà thì gia đình bà đi vào trong UBND xã để báo cáo sự việc.

Tại Bản án số 04/2019/DS-ST ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa đã quyết định:

Căn cứ vào Khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39, 147, 244, Khoản 1 Điều 232, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luật Dân sự; Điểm d Khoản1 Điều 12, Điểm b Khoản 1 Điều 24, Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn rút yêu cầu đối với Bị đơn các khoản sau: Rút số tiền xe từ nhà ra bệnh viện Bạch Mai số tiền là 3.000.000đ; Rút số tiền công người chăm sóc 50.000đ/ngày công; Rút số tiền yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần bằng 5 tháng lương tối thiểu.

2. Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của Nguyên đơn. Buộc ông Đinh Văn Hà và bà Lê Thị L phải liên đới bồi thường số tiền là 9.397.000đ ( Chín triệu ba trăm chín bày ngàn đồng) cho bà Đỗ Thị D .

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

* Ngày 28/6/2019, nguyên đơn là bà Đỗ Thị D kháng cáo, với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn bồi thường cho bà số tiền 9.397.000đ là quá ít ỏi so với số tiền mà bà đã bỏ ra để điều trị thương tích do bị đơn gây ra. Đề nghị Tòa án tỉnh Thanh Hóa xét xử lại để bảo đảm quyền L cho bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm tuân theo quy định của BLTTDS. Đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị D , giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự và ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Xét nội dung kháng cáo: Ông H , bà L gây thương tích cho bà D là có thật. Xuất phát từ việc hai bên có mâu thuẫn về đất đai, nhẽ ra bà D phải bàn bạc với ông H , bà L hoặc bà D đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Nhưng bà D lại sang gia đình ông H chửi bới dẫn đến hai bên xô xát làm bà D bị tổn hại 2% sức khỏe. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định mức độ lỗi của bà D là 45%; lỗi của ông H , bà L là 55% là phù hợp cũng như đã xem xét, đánh giá những hóa đơn, chứng từ và những chi phí hợp lý để bà D điều trị tổn thương sức khỏe; chấp nhận một phần đơn khởi kiện của bà D , buộc anh Hà, chị L phải bồi thường số tiền 9.397.000đ là có căn cứ, phù hợp pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bà D không xuất trình tài liệu, chứng cứ nào mới. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị D , giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3]. Về án phí: Kháng cáo của bà D không được chấp nhận nhưng bà D là người yêu cầu bồi thường về sức khỏe nên bà D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, trả lại số tiền tạm ứng án phí DSPT cho bà D; căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12 NQ 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

* Căn cứ vào khoản 1 Điều 244 của BLTTDS; Điều 584, 585, 587, 590 của BLDS. Điểm d Khoản1 Điều 12, Điểm b Khoản 1 Điều 24, Khoản 4 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị D, giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm số 04/2019/DS-ST ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa.

Xử:

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn rút yêu cầu đối với bị đơn các khoản sau: Rút số tiền xe từ nhà ra bệnh viện Bạch Mai số tiền là 3.000.000đ; Rút số tiền công người chăm sóc 50.000đ/ngày công; Rút số tiền yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần bằng 5 tháng lương tối thiểu.

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị D . Buộc ông Đinh Văn Hà và bà Lê Thị L phải liên đới bồi thường cho bà Đỗ Thị D số tiền là 9.397.000đ (Chín triệu ba trăm chín bày ngàn đồng).

2. Về án phí DSPT: Trả lại cho bà Đỗ Thị D số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà D đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số AA/2017/0005513 ngày 01/7/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.


19
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về