Bản án 58/2019/HNGĐ-ST ngày 16/04/2019 về xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 58/2019/HNGĐ-ST NGÀY 16/04/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 16 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1084/2018/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 12 năm 2018 về việc “xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Hồng G, sinh năm: 1976 (có mặt).

Địa chỉ: Số 86, B Th Tr, khóm 4, phường K, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Lê Xuân Q, sinh năm: 1976 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số 86, B Th Tr, khóm 4, phường K, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và tại phiên tòa, chị G trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Lê Xuân Q xác lập quan hệ hôn nhân và chung sống vợ chồng vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường K, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Hôn nhân của chị và anh Q được xác lập trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức hỏi cưới theo phong tục, tập quán và được gia đình hai bên chấp thuận.

Quá trình chung sống, chị và anh Q luôn xảy ra mâu thuẫn, bất đồng trong cuộc sống, không có tiếng nói chung và không thể hòa hợp nhau nên cuộc sống vợ, chồng chị không có hạnh phúc. Do đó, chị xét thấy tình cảm vợ, chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.

- Về con chung: Chị G xác định giữa chị và anh Q có 02 con chung là Lê Xuân B, sinh ngày 05/12/2006; Lê Quốc B, sinh ngày 20/02/2010. Hiện 02 con của chị và anh Q đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu tiếp tục được nuôi 02 con và chị yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 7.500.000đ/người.

- Về tài sản chung: Chị G xác định vợ, chồng chị không có tài sản chung nên chị không đặt ra yêu cầu Tòa giải quyết.

- Về nợ chung: Chị G khai vợ, chồng chị không thiếu nợ ai và không ai nợ lại vợ, chồng chị.

Tại đơn xin vắng mặt ngày 16/01/2019, anh Lê Xuân Q trình bày: Về thời gian kết hôn, nơi đăng ký kết hôn, con chung, tình trạng tài sản, nợ đúng như đơn khởi kiện của chị G trình bày. Anh Q thống nhất các yêu cầu của chị G đặt ra, anh không có ý kiến khác, đồng thời anh xin vắng mặt trong quá trình hòa giải và xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Đối với anh Lê Xuân Q có đơn yêu cầu vắng mặt từ phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, trong quá trình hòa giải và xét xử vụ án. Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được đồng thời tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Q theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Võ Thị Hồng G và anh Lê Xuân Q xác lập quan hệ vợ, chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán, có đăng ký kết hôn vào năm 2005 và đủ điều kiện kết hôn theo luật định nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Quá trình chung sống anh, chị có nhiều điểm bất đồng, không quan tâm, chăm sóc, thương yêu lẫn nhau. Xét mâu thuẫn thực tế là có nhiều mâu thuẫn, nhận thấy về mục đích hôn nhân không đạt. Bởi lẽ, trong cuộc sống vợ, chồng của anh, chị mỗi người có suy nghĩ, quan điểm khác nhau dẫn đến không hoà hợp, thường xuyên cải vã, xung đột với nhau làm ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ, chồng nên anh, chị mỗi người sống một nơi, có cuộc sống và mối quan hệ riêng tư, không quan tâm, giúp đở lẫn nhau. Mặt khác, sau khi xảy ra mâu thuẫn, anh, chị cũng tự dung hoà để hàn gắn tình cảm vợ, chồng nhưng không có hiệu quả. Thực tế chị G và anh Q không còn chung sống vợ, chồng từ nhiều năm nay, thời gian này cũng nhằm tạo điều kiện cho hai bên có thời gian suy nghĩ, tìm giải pháp khắc phục mâu thuẫn nhưng cũng không có hiệu quả nên nay chị G nộp đơn ly hôn và được anh Q chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét chấp nhận cho chị G được ly hôn với anh Q là có căn cứ.

[3] Về con chung: Chị G và anh Q xác định giữa chị và anh Q có 02 con chung là Lê Xuân B, sinh ngày 05/12/2006; Lê Quốc B, sinh ngày 20/02/2010. Khi ly hôn, chị yêu cầu tiếp tục được nuôi 02 con và chị yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 7.500.000đ/người. Anh Q đồng ý giao 02 con cho chị G nuôi dưỡng, anh Q tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 7.500.000đ/người cho đến khi các con của anh, chị đủ 18 tuổi. Xét thấy sự tự nguyện thỏa thuận của chị G và anh Q phù hợp luật định nên chấp nhận.

[4] Về tài sản chung: Chị G và anh Q xác định không có nên anh, chị không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị G và anh Q khai không thiếu nợ ai và không ai nợ lại anh, chị nên không đề cập giải quyết.

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định. Án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, buộc anh Q phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Hồng G về việc xin ly hôn anh Lê Xuân Q.

2. Về con chung: Chấp nhận sự tự nguyện thoả thuận của chị G và anh Q – giao các cháu Lê Xuân B, sinh ngày 05/12/2006; Lê Quốc B, sinh ngày 20/02/2010 cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng, anh Q tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 7.500.000đ/người. Thời hạn cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu Xuân B và cháu Quốc B đủ 18 tuổi.

Anh Q không trực tiếp nuôi con vẫn được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Kể từ ngày chị G có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Q không tự nguyện cấp dưỡng khoản tiền nuôi con nêu trên thì hàng tháng phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.

3. Về tài sản chung: Chị G và anh Q xác định không có nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị G và anh Q khai không thiếu nợ ai và không ai nợ lại anh, chị nên không đề cập giải quyết.

5. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, chị G phải chịu 300.000đ, ngày 21 tháng 12 năm 2018, chị G đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số 1832 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được đối trừ chuyển thu sung công quỹ nhà nước. Án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh Q phải chịu 300.000đ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Chị G có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


33
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 58/2019/HNGĐ-ST ngày 16/04/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:58/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 16/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về