Bản án 59/2018/HSST ngày 12/11/2018 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

 TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU - TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 59/2018/HSST NGÀY 12/11/2018 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Hôm nay, ngày 12 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 49/2018/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2018/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2018/HSST-QĐ, ngày 24 tháng 10 năm 2018, đối với các bị cáo: 

Trương Văn T (tên gọi khác: T Mập), sinh ngày 06 tháng 8 năm 1994, tại tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Không có. Nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; trình độ văn hóa: 05/12; con ông Trương Văn N, sinh năm: 1966 và bà Lê Thị G, sinh năm: 1972; vợ: Nguyễn Thị Thùy D (đã ly hôn); con: có 01 người, sinh năm 2013; tiền sự, tiền án: không có. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23 tháng 7 năm 2018 đến ngày 08 tháng 9 năm 2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn khác. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Hồ Văn L (tên gọi khác: B), sinh ngày 11 tháng 7 năm 1995, tại tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Không có. Nơi cư trú: Ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; trình độ văn hóa: 06/12; con ông Hồ Văn N, sinh năm: 1971 và bà Trần Thị T, sinh năm: 1977; vợ; con: chưa có; tiền sự, tiền án: không có. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01 tháng 8 năm 2018 đến ngày 08 tháng 9 năm 2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn khác. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Văn B. Địa chỉ: đường L, Phường X, Quận Y, Thành Phố mmH (vắng mặt).

- Anh Nguyễn Thanh G, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện B1, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

- Chị Nguyễn Thị Bích H, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện B1, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

- Bà Lê Thị G, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện B1, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

- Bà Trần Thị T, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện B1, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11 tháng 2 năm 2018, ông Nguyễn Văn B chủ quán cà phê 999 tại ấp V, xã A, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, phát hiện quán cà phê của ông bị mất 01 máy bơm hơi loại nhỏ hiệu PUMA, 01 máy khoan bàn loại nhỏ, 01 mô tơ loại nhỏ, 01 máy cắt gạch loại nhỏ. Ông B đến Công an trình báo sự việc.

Qua quá trình điều tra đã kết luận: Vào tháng 01 năm 2018, Nguyễn Minh L1 điều khiển xe mô tô không rõ biển số, chở theo 01 (một) máy bơm hơi loại nhỏ hiệu PUMA; 01 (một) máy khoan bàn loại nhỏ, màu bạc; 01 (một) mô tơ loại nhỏ, màu bạc xanh đến gặp Trương Văn T và Hồ Văn L tại nhà của T thuộc ấp C, xã A, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Lúc này, Luân nói tài sản trên là do trộm cắp mà có và nhờ T và L tìm người bán dùm, T và L đồng ý. L điều khiển xe mô tô loại Sirius không rõ biển số của T chở tài sản trên đến nhà ông Lê Văn B để nhờ ông B bán tài sản trên. Ông B không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên đã đồng ý giữ và tìm người bán. Ông B không tìm được người để bán nên T và L tự tìm người mua để bán số tài sản trên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2018, theo yêu cầu của Th, L điều khiển xe mô tô loại Sirius không rõ biển số của T chở máy bơm hơi loại nhỏ hiệu PUMA đến nhà chị Nguyễn Thị Bích H bán với giá 1.500.000 đồng.

Ngày 02 tháng 02 năm 2018, T trực tiếp đến gặp anh Nguyễn Thanh G để bán 01 (một) máy khoan bàn loại nhỏ, màu bạc và 01(một) mô tơ loại nhỏ, màu bạc xanh, để trong khung sắt, với giá 1.250.000 đồng.

Sau khi bán được tài sản T, L và L1 đã chia nhau số tiền 2.750.000 đồng để tiêu xài.

Đối với 01 (một) máy cắt gạch loại nhỏ hiệu LFX - 50-021, màu đen bạc L1 trực tiếp bán cho anh Giàu với số tiền 300.000 đồng, Luân tiêu xài riêng.

Tại cơ quan điều tra T và L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã khởi tố bị can Nguyễn Minh L1 để xử lý về tội trộm cắp tài sản. Hiện tại Nguyễn Minh L1 đã bỏ địa phương, Công an huyện Bến cầu, tỉnh Tây Ninh ra lệnh bắt bị can để tạm giam, tách vụ án để xử lý riêng.

Đối với hành vi của ông Lê Văn B, chị Nguyễn Thị Bích H, anh Nguyễn Thanh G không biết nguồn gốc số tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 11/KL-HĐĐG ngày 30-3-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh kết luận:

- 01 (một) máy bơm hơi loại nhỏ hiệu PUMA, có bình chứa hơi màu đỏ có giá trị 800.000 đồng;

- 01 (một) máy khoan bàn loại nhỏ, màu bạc có giá trị 800.000 đồng;

- 01 (một) mô tơ loại nhỏ, màu bạc xanh, để trong khung sắt có chiều dài 40cm, chiều rộng 30cm, chiều cao 30cm có giá trị 600.000 đồng;

- 01 (một) máy cắt gạch loại nhỏ hiệu LFX-50-021, màu đen bạc có giá trị 400.000 đồng. Tổng giá trị là 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng: Công an đã thu hồi toàn bộ tài sản trên, trả lại cho ông Nguyễn Văn B.

Về bồi thường thiệt hại: Chị Nguyễn Thị Bích H yêu cầu bồi thường 1.500.000 đồng; anh Nguyễn Thanh G yêu cầu bồi thường 1.250.000 đồng. Bà Lê Thị G, bà Trần Thị T là mẹ của T và L đã bồi thường xong.

Kê biên tài sản: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh kê biên 01 xe mô tô biển số 70 C1-253.02 của Hồ Văn L.

Tại bản Cáo trạng số: 49/QĐ-KSĐT ngày 11 tháng 9 năm 2018, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố Trương Văn T và Hồ Văn L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn T và bị cáo Hồ Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trương Văn T và bị cáo Hồ Văn L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Văn T từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách của bị cáo là từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng. Bị cáo Hồ Văn L từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách của bị cáo là từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng.

Bị cáo T, bị cáo L không có ý kiến tranh luận.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: các bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Vào tháng 01 năm 2018, các bị cáo Trương Văn T, Hồ Văn L không hứa hẹn trước với tên Nguyễn Minh L1 nhưng biết rõ nguồn gốc tài sản gồm: 01 (một) máy bơm hơi loại nhỏ hiệu PUMA; 01 (một) máy khoan bàn loại nhỏ, màu bạc; 01 (một) mô tơ loại nhỏ; 01 (một) máy cắt gạch loại nhỏ, mà tên L1 đã chở đến nhà T là do L1 trộm cắp mà có thì các bị cáo đã chứa chấp và đã đem 01 (một) máy bơm hơi loại nhỏ hiệu PUMA; 01 (một) máy khoan bàn loại nhỏ, màu bạc; 01 (một) mô tơ loại nhỏ đi bán lấy tiền để chia nhau tiêu xài. Hành vi này của các có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Trương Văn T, Hồ Văn L phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định tại Khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của các bị cáo: mang tính chất ít nghiêm trọng, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần nghiêm trị để có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần mức án cho các bị cáo theo quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về bồi thường thiệt hại: Ông Nguyễn Văn B đã nhận lại toàn bộ tài sản; chị Nguyễn Thị Bích H đã nhận lại số tiền 1.500.000 đồng; anh Nguyễn Thanh G đã nhận lại số tiền 1.250.000 đồng. Ông B, chị H và anh G không yêu cầu gì khác.

Bà Trần Thị G, bà Lê Thị T không yêu cầu bị cáo T, bị cáo L phải trả lại số tiền đã bồi thường.

[6] Về kê biên tài sản: gia đình bị cáo L đã bồi thường xong, và không có ai yêu cầu gì khác nên hủy bỏ việc kê biên tài sản, trả lại cho bị cáo Hồ Văn L 01 xe mô tô biển số 70C1 – 253.02.

[7] Về xử lý vật chứng: ông Nguyễn Văn B đã nhận lại tài sản bị mất gồm: 01 (một) máy bơm hơi loại nhỏ hiệu PUMA, có bình chứa hơi màu đỏ; 01 (một) máy khoan bàn loại nhỏ, màu bạc; 01 (một) mô tơ loại nhỏ, màu bạc xanh, để trong khung sắt có chiều dài 40cm, chiều rộng 30cm, chiều cao 30cm; 01 (một) máy cắt gạch loại nhỏ hiệu LFX-50-021, màu đen bạc, (tất cả đã qua sử dụng).

[8] Về án phí: Các bị cáo Trương Văn T, Hồ Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Trương Văn T, Hồ Văn L phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Căn cứ Khoản 1 Điều 323; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trương Văn T 09 ( chín ) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách của bị cáo là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án (12-11-2018).

Giao bị cáo T về Ủy ban nhân dân xã A, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

- Căn cứ Khoản 1 Điều 323; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Văn L 06 ( sáu ) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách của bị cáo là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án (12- 11-2018).

Giao bị cáo L về Ủy ban nhân dân xã A, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về tài sản kê biên: Hủy bỏ lệnh kê biên tài sản số 02 ngày 01 tháng 9 năm 2018 của Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh trả lại cho bị cáo Hồ Văn L 01 xe mô tô biển số 70C1 – 253.02.

3. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30-12-2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, bị cáo L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo T, bị cáo L, bà G, bà T biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng ông B, chị H, anh G có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hnh án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


66
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 59/2018/HSST ngày 12/11/2018 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Số hiệu:59/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bến Cầu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về