Bản án 59/2019/HS-ST ngày 26/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 59/2019/HS-ST NGÀY 26/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa an nhân dân thanh phô Thai Bình,  tỉnh Thái Bình . Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình   mở phiên tòa xét xử công khai sơ thâm vu an hinh sư thu ly sô   55/2019/TLST-HS ngày 13/3/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/QĐXX-HS ngày 12/4/2019 đôi vơi bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Thị Kim Q, sinh ngày 13/5/1980; nơi cư trú: Phòng 313, tòa CT2, khu đô thị 379, phường T, thành phố B, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Bá T, sinh năm 1953 và bà Bùi Thị Q, sinh năm 1958; đã ly hôn và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 129/2012/HSST ngày 02/8/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản (đã xóa án tích).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

- Anh Trịnh Quốc T, sinh năm 1986, (vắng mặt);

Nơi cư trú: Số nhà 37, Tổ 31, phường K, thành phố B, tỉnh Thái Bình.

- Bà Bùi Thị H, sinh năm 1955, (vắng mặt);

Nơi cư trú: Số nhà 85, Tổ 3, phường X, thành phố B, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 14/12/2018, tại sân khu CT2, đô thị 379, phường T, thành phố B, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của Công an thành phố Thái Bình phát hiện Vũ Thị Kim Q đi bộ có biểu hiện liên quan đến ma túy nên yêu cầu Vũ Thị Kim Q dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của những người chứng kiến, Vũ Thị Kim Q tự giác lấy từ túi quần bên phải của mình ra 01 gói bên ngoài gói bằng nilon màu đen, bên trong gói bằng giấy tráng kim màu trắng giao nộp cho tổ công tác, tổ công tác mở gói nilon kiểm tra thì thấy bên trong gói chứa chất bột màu trắng dạng cục. Vũ Thị Kim Q khai nhận đó là ma túy loại Hêrôin, nguồn gốc gói ma túy là do trước đó vào khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, tại khu vực đường L, Tổ 27, phường T, thành phố B, Vũ Thị Kim Q mua của một người phụ nữ khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ với giá 150.000 đồng mục đích mua ma túy để bản thân sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Tổ công tác yêu cầu Vũ Thị Kim Q và mời người chứng kiến về Công an phường T, thành phố B để kiểm tra. Tại đây, tổ công tác tiến hành kiểm tra người Vũ Thị Kim Q nhưng không phát hiện và thu giữ tài sản, đồ vật gì. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắtngười phạm tội quả tang và biên bản niêm phong vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số 423/KLGĐ-PC09 ngày 15/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,1665 gam” (Không phẩy một nghìn sáu trăm sáu mươi lăm gam).

Tại cơ quan điều tra người chứng kiến là anh Trịnh Quốc T và bà Bùi Thị H trình bày: Khoảng 21 giờ 45 phút, ngày 14/12/2018, tại khu vực sân khu CT2, đô thị 379, phường T, thành phố B, ông, bà đã chứng kiến Công an thành phố Thái Bình kiểm tra hành chính đối với Vũ Thị Kim Q và Vũ Thị Kim Q tự giác lấy từ túi quần bên phải của mình 01 gói bằng giấy tráng kim màu trắng giao nộp cho Công an, Công an mở kiểm tra bên trong gói có chứa chất bột màu trắng dạng cục, Vũ Thị Kim Q khai đó là ma túy loại Hêrôin, do mua của môt ngươi phụ nữ khoảng 50 tuổi không biêt tên , đia chi vào khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, mục đích để sử dụng cho bản thân. Công an thành phố Thái Bình đã niêm phong 01 gói ma túy đồng thời yêu cầu Vũ Thị Kim Q và anh Tuấn bà Hòa về trụ sở Công an phường T, thành phố B để làm việc. Tại đây Công an kiểm tra trên người của Vũ Thị Kim Q nhưng không phát hiện thu giữ gì.

Tại cơ quan điều tra bị cáo Vũ Thị Kim Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số: 53/CT - VKSTP ngày 12/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Vũ Thị Kim Q về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điêu 249 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 14/12/2018, tại khu vực sân khu CT2, đô thị 378, phường T, thành phố B, tỉnh Thái Bình, bị cáo Vũ Thị Kim Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,1665 gam Hêrôin mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình phát hiện bắt quả tang. Kiểm sát viên phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, không có chứng cứ xác định vô tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở đó giư nguyên quan điêm truy tô theo cao trang đồng thời đê nghi Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Kim Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị Kim Q từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng bằng hình thức: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn lại sau giám định.

Bị cáo Vũ Thị Kim Q xác định cáo trạng truy tố bị cáo về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng tội, đúng pháp luật vì vậy bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh và mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên và Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và đó là các tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và cơ quan điều tra thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng là hợp pháp.

 [2]. Căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhân toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, đồng thời còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 22 giờ 00 phút ngày 14/12/2018; Biên bản niêm phong đồ vật, tài  liệu  lập  hồi  23  giờ  00  phút  ngày  14/12/2018;  Bản  kết  luận  giám  định  số 423/KLGĐ-PC09 ngày 15/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Bình; Lời khai của những người chứng kiến: anh Trịnh Quốc T, bà Bùi Thị H; Cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 14/12/2018, tại khu vực sân khu CT2, khu đô thị 378, phường T, thành phố B, tỉnh Thái Bình, Vũ Thị Kim Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,1665 gam Hêrôin mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người trưởng thành, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, bị cáo phải nhận thức rõ các tác hại do ma túy gây ra cũng như phải hiểu được quy định của pháp luật về việc nghiêm cấm đối với mọi hành vi liên quan đến ma túy, song với mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, bị cáo tàng trữ ma túy loại Hêrôin có khối lượng tương đương với khối lượng ma túy cấu thành cơ bản của tội phạm quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều 249 - Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...; c) Hêrôin, Côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”.Như vậy, hành vi của bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”  theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất , mưc đô , hâu qua hanh vi pham tôi cua bi cao  thì thây: Là nguy hiêm cho xa hôi , vì hành vi đó đã cố ý xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe của con người cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Xét nguyên nhân và điều kiện để thực hiện hành vi phạm tội là nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo không tuân thủ pháp luật, cố ý tàng trữ trái phép 0,1665 gam Hêrôin. Vì vậy cần xét xử bị cáo nghiêm minh bằng pháp luật.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào nhưng có nhân thân xấu, năm 2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 03 năm tù nên cần xem xét khi quyết định hình phạt. Song cũng xét, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình.

[5]. Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là phạt tù có thời hạn - buộc bị cáo cách ly ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo hiệu quả của việc cải tạo, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn định lại nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về nguồn gốc số ma túy. Bị cáo Vũ Thị Kim Q khai mua ma túy của 01 người phụ nữ không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý là phù hợp.

[7]. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy loại Hêrôindo bị cáo tàng trữ trái phép hoàn lại sau giám định, là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về án phí: Bị cáo Vũ Thị Kim Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Bị cáo Vũ Thị Kim Q có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điêu 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 50; Điêu 38; khoản 1 Điều 47 Bô luât hinh sư . Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điêu 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bô: Bị cáo Vũ Thị Kim Q phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Thị Kim Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ bị bắt thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vât chưng : Tịch thu tiêu huỷ số ma túy loại Hêrôin còn lại sau giám định thu của bị cáo Vũ Thị Kim Q và bao gói.

3. Án phi : Buôc bi cao  Vũ Thị Kim Q phải nộp 200.000 đông an phi hinh sư sơ thâm .

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quyđịnh tại điều 30 Luật thi  hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Án tuyên công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/4/2019.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 59/2019/HS-ST ngày 26/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:59/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về