Bản án 60/2018/DS-ST ngày 06/11/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 60/2018/DS-ST NGÀY 06/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 06 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 167/2018/TLST-DS, ngày 17/8/2018 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2018/QĐXXST-DS, ngày 18/10/2018, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần BĐ.

Địa chỉ: Tòa nhà C số 109 đường T, phường C, quận K, thành phố Hà Nội.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Ngọc N - Chuyên viên Tổ khách hàng của Phòng giao dịch TP Chi nhánh tỉnh Hậu Giang thuộc Ngân hàng TMCP BĐ (có mặt).

Địa chỉ phòng giao dịch: Số 418A Quốc lộ A, thị trấn B, huyện D, tỉnh Hậu Giang.

* Bị đơn: Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1978 (có yêu cầu vắng mặt).

Địa chỉ: ấp M, xã X, huyện S, tỉnh Sóc Trăng. Hiện đang bị tạm giam trong vụ án hình sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần BĐ thì vụ án có nội dung như sau:

Ngày 09/12/2014 Ngân hàng TMCP BĐ - Do Phòng giao dịch TP thuộc Chi nhánh tỉnh Hậu Giang làm đại diện đã ký Hợp đồng tín dụng số 0038198CT001TD01- LienvietPostBank.TPT, theo đó Ngân hàng cho bà Trần Thị Thanh H vay số tiền gốc là 110.000.000đ (cho vay không thế chấp, trả gốc và lãi hàng tháng trừ vào tiền lương vì bà H là giáo viên), để sử dụng vào mục đích tiêu dùng và phát triển kinh tế gia đình; thời hạn vay là 37 tháng; trả gốc và lãi vào ngày 25 hàng tháng; lãi suất cho vay được tính là: Lãi cố định 8.5%/năm tính từ ngày 10/12/2014 đến ngày 09/12/2015 theo chương trình “Nghìn tỷ ưu đãi - Lãi suất lựa chọn”. Sau ngày 09/12/2017 áp dụng lãi suất thả nổi định kỳ điều chỉnh 3tháng/lần; lãi suất điều chỉnh được xác định bằng (=) Lãi suất huy động tiết kiệm thường kỳ 13  tháng, lãi trả cuối kỳ của LPB tại thời điểm áp dụng lãi suất cộng (+) tối thiểu 4%/năm; trường hợp khách hàng phát sinh nợ quá hạn trong chương trình ưu đãi: áp dụng lãi suất cho vay thông thường theo quy định của LienvietPostBank tại thời điểm quá hạn; ngày trả nợ cuối cùng là ngày 25/12/2017. Sau khi vay, thời gian đầu bà H trả gốc và lãi đúng thỏa thuận nhưng sau đó thì vi phạm thời gian trả gốc và lãi do bà H bị tạm giam trong vụ án hình sự khác.

Do bà H trả tiền vay không đúng theo thỏa thuận của hợp đồng mà các bên đã ký. Vì vậy, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt - Chi nhánh tỉnh Hậu Giang khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Sóc Trăng giải quyết buộc bà H phải trả số tiền còn nợ tính đến ngày 30/5/2018 là 130.607.930đ, trong đó tiền gốc là 85.000.000đ, tiền lãi là 45.607.930đ.

Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn H phải trả tiền gốc và lãi còn nợ tính đến ngày xét xử 06/11/2018 là 139.604.354đ, trong đó, tiền gốc là 85.000.000đ; tiền lãi trong hạn là 31.350.863đ và tiền lãi quá hạn là 23.253.491đ, tổng tiền lãi là 54.604.354đ. Ngân hàng yêu cầu bị đơn H tiếp tục trả lãi quá hạn trên số tiền gốc còn nợ đến khi trả hết nợ gốc theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký.

* Trong Đơn xin gia hạn thời hạn trả tiền Ngân hàng, đề ngày 27/9/20218 của bị đơn H, có xác nhận của Trại tạm giam công an tỉnh Sóc Trăng và tại Biên bản lấy lời khai ngày 12 tháng 10 năm 2018, bị đơn H trình bày: Bà thừa nhận có vay tiền và còn nợ số tiền gốc và lãi như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tính đến ngày 30/5/2018 là 130.607.930đ. Do bị đơn đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Sóc Trăng từ ngày 29/4/2016 đến nay, nên không có điều kiện trả nợ hàng tháng cho Ngân hàng. Bị đơn H yêu cầu Ngân hàng và Tòa án xem xét đến khi bị đơn H được trả tự do thì bị đơn H sẽ hoàn trả nợ cho Ngân hàng.

* Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tại phiên tòa như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự tuân thủ và chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn H phải trả số tiền gốc và lãi còn thiếu cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần BĐ - Chi nhánh tỉnh Hậu Giang, yêu cầu bị đơn H phải trả số tiền gốc và tiền lãi còn nợ tính đến ngày 06/11/2018 là 139.604.354đ vì bị đơn H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng mà các bên đã ký. Bị đơn H thừa nhận còn nợ số tiền nêu trên nhưng xin đến khi được ra tù sẽ trả nợ cho Ngân hàng.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu xin khi ra tù sẽ trả nợ cho Ngân hàng của bị đơn H thì thấy rằng:

Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...”. Do bị đơn H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn H phải trả số tiền gốc và tiền lãi còn nợ tính đến ngày 06/11/2018 là 139.604.354đ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do nguyên đơn không đồng ý để bị đơn H khi được ra tù về nhà rồi mới trả nợ, nên yêu cầu xin gia hạn thời hạn trả nợ của bị đơn H không được chấp nhận.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận như những căn cứ và phân tích nêu trên.

[2] Án phí sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nên bị đơn H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, cụ thể là: 139.604.354đ x 5% = 6.980.000đ (đã làm tròn số).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 165, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.

- Căn cứ Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Căn cứ Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần BĐ.

1. Buộc bị đơn Trần Thị Thanh H phải trả cho nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần BĐ do Phòng giao dịch TP thuộc Chi nhánh tỉnh Hậu Giang, đại diện nhận số tiền gốc còn nợ là 85.000.000đ (tám mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi tính đến ngày 06/11/2018 là 54.604.354đ (năm mươi bốn triệu, sáu trăm lẻ bốn ngàn, ba trăm năm mươi bốn đồng), tổng cộng vốn và lãi là 139.604.354đ (một trăm ba mươi chín triệu, sáu trăm lẻ bốn ngàn, ba trăm năm mươi bốn đồng).

Kể từ ngày 07/11/2018 bị đơn H còn phải tiếp tục trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần BĐ do Phòng giao dịch TP thuộc Chi nhánh tỉnh Hậu Giang đại diện nhận, số tiền lãi trên số tiền gốc là 85.000.000đ (tám mươi lăm triệu đồng) theo mức lãi suất nợ quá hạn trong Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký.

2. Án phí sơ thẩm:

- Bị đơn H phải chịu 6.980.000đ (sáu triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Nguyên đơn được nhận lại 3.265.000đ (ba triệu, hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004194, ngày 16/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đối với bị đơn H, thời hạn kháng cáo nêu trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 60/2018/DS-ST ngày 06/11/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:60/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kế Sách - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:06/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về