Bản án 61/2017/DS-ST ngày 28/09/2017 về tranh chấp tiền nợ hụi

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 61/2017/DS-ST NGÀY 28/09/2017 VỀ TRANH CHẤP TIỀN NỢ HỤI

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 81/2017/TLST-DS ngày 23 tháng 6 năm 2017 về việc: “Tranh chấp nợ hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2017/QĐST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2017/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm: 1943; Cư trú: Ấp R, xã Viên Đ, huyện H, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Việt H và bà Võ Thị T; Cư trú: Ấp K, xã Đ, huyện H, tỉnh Cà Mau.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Huỳnh Văn Đ có mặt, bị đơn bà Võ Thị T có mặt, ông Nguyễn Việt H vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 23/6/2017 và biên bản hòa giải ngày 16/8/2017 nguyên đơn ông Huỳnh Văn Đ trình bày:

Vào ngày 30/3/2016 (âm lịch) vợ chồng ông H với bà T có mở dây hụi 1.000.000 đồng, ông Đ có tham gia chơi 01 chưng, hụi đóng được 13 lần ông Đ chưa hốt hụi thì ngày 15/6/2016 vợ chồng ông H và bà T đình hụi, dây hụi này ông H và bà T nợ ông Đ là: 13.000.000 đồng.

Ngày 15/6/2016 ông H với bà T mở dây hụi 500.000 đồng, hụi có 45 chưng, ông Đ có tham gia 01 chưng, trong dây hụi này ông Đ có mua 01 chưng hụi với số tiền là 12.000.000 đồng. Như vậy hụi cả hụi mua và hụi tham gia chơi bà T với ông H còn nợ ông Đ số tiền là: 20.000.000 đồng.

Ngày 30/6/2016 âm lịch ông H với bà T có mở hụi 500.000 đồng, hụi 44 chưng, ông Đ có tham gia chơi 02 chưng và đóng được 07 kỳ thì đình hụi, dây hụi này ông H với bà T nợ ông Đ số tiền là: 7.000.000 đồng.

Tổng cộng ông H với bà T nợ ông Đ là: 40.000.000 đồng. Nay ông Đ yêu cầu ông H với bà T trả cho tôi số tiền nợ hụi là: 40.000.000 đồng.

Tại bản tự khai ngày 25/7/2017 và biên bản hòa giải bị đơn bà Võ Thị T trình bày: Bà T xác định bà với ông H có mở hụi từ năm 2014 đến nay, nguyên nhân đình hụi là do các hụi viên nợ hụi vợ chồng bà T rất nhiều nên mới dẫn đến đình hụi. Bà T thừa nhận vợ chồng bà còn nợ ông Đ số tiền là: 40.000.000 đồng, nhưng do hoàn cảnh khó khăn, chồng bà là ông H hiện nay không có ở nhà nên bà xin trả dần cho ông Đ.

Tại phiên tòa hôm nay: Ông Đ bảo lưu quan điểm yêu cầu ông H với bà T thanh toán lại số tiền nợ hụi là: 40.000.000 đồng. Bà T đồng ý thanh toán nhưng xin được trả dần hàng tháng. Ông H vắng mặt nên không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Qua thẩm vấn các đương sự công khai tại phiên tòa; nghe ý kiến của các đương sự trình bày và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; xét xử vắng mặt bị đơn ông H tại phiên tòa.

[2] Về nội dung: Vào năm 2016 ông H, bà T có mở nhiều dây hụi gồm hụi 1.000.000 đồng/chưng và hụi 500.00 đồng/chưng, ông Đ có tham gia chơi nhiều dây và mua 01 chưng, bà T thừa nhận nên việc giao dịch chơi hụi, mua hụi giữa ông Đ với ông H và bà T là thực tế có xảy ra.

Xét thấy, ông Đ giao dịch chơi nhiều chưng hụi với bà T và ông H, hiện nay bà T thừa nhận còn nợ ông Đ tổng số tiền là: 40.000.000 đồng và đồng ý trả cho ông Đ. Riêng ông H chồng bà T Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng ông H vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản hồi. Hiện nay ông H với bà T là vợ chồng, bà T xác định việc chơi hụi với ông Đ thì ông H có cùng với bà trực tiếp giao dịch do đó ông H cũng có trách nhiệm thanh toán nợ hụi cùng bà T. Sau khi đình hụi giữa bà T và ông Đ hai bên không xác định số tiền đóng hụi vào và lãi suất hụi là bao nhiêu, bà T đồng ý chốt nợ lại và thừa nhận còn nợ ông Đ là: 40.000.000 đồng và đồng ý trả. Vì vậy không có cơ sở để tính phần lãi hụi vượt mức pháp luật quy định để đối trừ. Tại phiên tòa hôm nay ông Đ yêu cầu bà T và ông H thanh toán tiền nợ hụi tổng cộng là: 40.000.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

Kể từ khi ông Đ có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà T và ông H chậm trả khoản tiền trên cho ông Đ thì hàng tháng bà T và ông H còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà T và ông H phải nộp là: 2.000.000 đồng. Phần dự nộp của ông Đ được nhận lại.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Việt H tại phiên tòa.

Áp dụng Điều 471, Điều 468 của Bộ luật dân sự; áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu đòi thanh toán tiền hụi của ông Huỳnh Văn Đ đối với bà Võ Thị T và ông Nguyễn Việt H. Buộc bà Võ Thị T và ông Nguyễn Việt H có trách nhiệm thanh toán số tiền hụi cho ông Huỳnh Văn Đ là: 40.000.000 đồng.

Kể từ khi ông Huỳnh Văn Đ có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Võ Thị T và ông Nguyễn Việt H chậm trả khoản tiền trên cho ông Đ thì hàng tháng bà T và ông H còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

- Án phí dân sự sơ thẩm bà Võ Thí T và ông Nguyễn Việt H phải nộp là: 2.000.000 đồng. Phần dự nộp của ông Huỳnh Văn Đ số tiền là: 1.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0013706 ngày 23 tháng 6 năm 2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H ông Huỳnh Văn Đ được nhận lại.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


149
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 61/2017/DS-ST ngày 28/09/2017 về tranh chấp tiền nợ hụi

Số hiệu:61/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ngọc Hiển - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về