Bản án 61/2017/HSST ngày 21/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN  DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 61/2017/HSST NGÀY 21/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 21 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 57/2017/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Tạ Văn T, sinh ngày 01/02/1984, tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; giới tính: Nam; cư trú tại: Thôn N, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; con ông: Tạ Văn A và con bà: Chu Thị D; vợ: Đỗ Thị T; con: Có 01 con, sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2017: Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Tạ Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 12/9/2017 Tạ Văn T từ nhà ở thôn N, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đi xe ôm ra thị trấn Đ, huyện C để đón xe ô tô khách lên thành phố L, mục đích mua ma túy Hêrôine về sử dụng. Khi lên đến thành phố L, T gặp và  đưa cho một người đàn ông lái xe ôm (không biết tên, tuổi, địa chỉ) số tiền 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng) nhờ mua hộ ma túy Hêrôine, người đàn ông này cầm tiền rồi đi khoảng 30 phút sau quay lại đưa cho T 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa chất ma túy Hêrôine. Sau khi mua được ma túy, T đến một hiệu thuốc mua 05 chiếc xilanh và 06 lọ nước cất Novocain rồi đi vào một ngõ nhỏ ở thành phố L, lấy một ít ma túy Hêrôine trong số vừa mua được ra để sử dụng, T đã sử dụng hai lần may túy tại thành phố L bằng hình thức chích, số ma túy còn lại T cất vào túi áo ngực bên trái, còn 05 chiếc xilanh và 04 lọ nước cất Novocain T cho vào túi quần bên trái đang mặc, mục đích đem về nhà sử dụng.  Sau đó T đón xe ô tô khách quay về nhà, khi đến thôn Đ, xã H, huyện C, T xuống xe cầm túi nilon màu xanh chứa ma túy Hêrôine trong tay trái và đi bộ về nhà thì bị Công an huyện C kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng, đồ vật thu giữ gồm: 01 (một) túi nilon màu xanh bên trong chứa chất cục bột màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar, đã qua sử dụng; số tiền 360.000đ (ba trăm sáu mươi nghìn đồng); 05 (năm) chiếc xilanh (03 xilanh chưa sử dụng; 02 xilanh đã qua sử dụng); 04 (bốn) lọ nước cất Novocain 3%. 01 (một) giấy chứng minh nhân dân mang tên Tạ Văn T.

Tại bản Kết luận giám định số 329/KL-PC54 ngày 14/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất cục bột màu trắng có trong 01 (một) túi nilon màu xanh thu giữ của Tạ Văn T đều là chất ma túy Hêrôine, có tổng trọng lượng 1,602 gam.

Tại cơ quan điều tra, Tạ Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Đối với người đàn ông lái xe ôm mua hộ ma túy Hêrôine cho Tạ Văn T tại thành phố L, tỉnh Lạng Sơn do không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng không thể điều tra xác minh.

Tại bản cáo trạng số: 57/CT-VKS ngày 27/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng đã truy tố bị cáo Tạ Văn T về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tạ Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999 và Nghị quyết số 41/2017/NQ14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Tạ Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung vì bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử - Xử: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư bên trong đựng 1,432 gam Hêrôin, 05 chiếc xilanh (03 xilanh chưa sử dụng; 02 xilanh đã qua sử dụng); 04  lọ nước cất Novocain 3%; trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Mobiistar, đã qua sử dụng, 01 chứng minh nhân dân mang tên Tạ Văn T và 360.000 đồng đã thu của bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa bị cáo Tạ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phậm tội  nêu trên, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu,  chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Các tài liệu, chứng cứ phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác đ ịnh bị cáo Tạ Văn T đã có hành vi thực hiện tội phạm, tàng trữ trái phép chất ma túy xẩy ra tại thôn Đ, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 12/9/2017 Công an huyện Chi Lăng đã thu giữ trong lòng bàn tay trái của bị cáo T có một túi nilon màu xanh bên trong chứa chất ma túy Hêrôine, có tổng trọng lượng là 1,602 gam. Theo hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 3 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007  của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao và Bộ tư pháp. Thì bị cáo Tạ Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên 0,1 gam Hêrôin. Nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Tạ Văn T đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 57/CT-VKS  ngày 27/10/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Tạ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không oan. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội và chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước ta đối với các chất gây nghiện, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo để sử dụng cho bản thân, đã tác động trực tiếp đến sức khỏe con người của chính bị cáo, làm ảnh hưởng đến đời sống vật chất gia đình, ai cũng biết tác hại của ma túy làm suy thoái đạo đức lối sống, sự phát triển nòi giống và là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Hội đồng xét xử xét thấy; cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tự tu dưỡng rèn luyện bản thân và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét về nhân thân, về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, như  bị cáo phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra đã thành khẩn khai báo, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo bị truy tố xét xử theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt nhẹ hơn. Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc, vận dụng nguyên  tắc có lợi cho bị cáo và căn cứ vào Nghị quyết số 41/2017/NQ14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội để xét xử bị cáo với mức án nhẹ hơn theo quy định của điều luật đã truy tố đối với bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo tốt, sớm hoàn lương trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về tình tiết tặng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng tại phiên tòa đã phân tích tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng và mức đề nghị của Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù giam. Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nghề nghiệp lao động tự do, không có tài sản riêng, nên hội Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy; Một phong bì thư niêm phong ký hiệu số 01, bên trong có 1,432 gam Hêrôin.

03 (ba) chiếc xilanh  3ml/cc chưa sử dụng; 02 (hai) chiếc 3ml/cc đã qua sử dụng, 04 lọ nước cất Novocain 3%.

Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistan có model là BL- 200h, số IMEI: 357750420438227.

01 giấy CMTND số 082093440 mang tên Tạ Văn T và số tiền 360.000 đồng, hiện đang được gửi giữ tại tài khoản:3949.0.1054777.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Tạ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng khoản 1Điều 194; Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Tạ Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 13/9/2017. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 1, 3 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu để tiêu hủy: Một phong bì thư niêm phong ký hiệu số 01, bên trong có 1,432 gam Hêrôin.

03 (ba) chiếc xilanh  3ml/cc chưa sử dụng; 02 (hai) chiếc 3ml/cc đã qua sử dụng, 04 lọ nước cất Novocain 3%.

Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistan có model là BL- 200h, số IMEI: 357750420438227.

01 giấy CMTND số 082093440 mang tên Tạ Văn T và số tiền 360.000 đồng, hiện đang được gửi giữ tại tài khoản: 3949.0.1054777.00000  của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

(Các vật chứng trên hiện đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chi Lăng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Chi Lăng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chi Lăng ngày 31/10/2017).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Tạ Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung Công quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


100
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về