Bản án 61/2018/HNGĐ-ST ngày 12/12/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN  HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 61/2018/HNGĐ-ST NGÀY 12/12/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 12 tháng 12 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 364/2018/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2018, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2018 và quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ 15, ấp X, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đình B, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ 15, ấp X, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

 (Bà H vắng mặt- có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông B vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn yêu cầu ly hôn, bản tự khai và các biên bản làm việc tại Toà án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị H trình bày:

Bà Huỳnh Thị H và ông Nguyễn Đình B đăng ký kết hôn kết hôn vào ngày 16-11-1999 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện C. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức lễ cưới tại gia đình của hai bên ở xã X, huyện C. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến tháng 12 năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tôn trọng lẫn nhau, sinh lý của vợ chồng không hòa hợp nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau, nhiều lần ông B đánh đập bà H mà lần sau cùng bà H bị ông B đánh đập vào ngày 20-12-2016 thì hai người sống ly thân cho đến nay. Nay thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài, không thể hàn gắn được nên bà Huỳnh Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Đình B.

Về con chung: Bà Huỳnh Thị H và ông Nguyễn Đình B có 02 người con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Huy L, sinh ngày 25-7-1998 và cháu Nguyễn Huỳnh Huy C, sinh ngày 15-10-2002. Hiện nay cháu L đã trưởng thành trên 18 tuổi nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà H có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người con chung là cháu C và bà H không yêu cầu ông B phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai, biên bản hòa giải trong quá trình làm việc tại Tòa án bị đơn ông Nguyễn Đình B trình bày:

Ông Nguyễn Đình B đã được tòa án triệu tập, niêm yết nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật về nội dung tranh chấp; thu thập  đầy đủ chứng cứ và xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc xét xử trong phiên tòa sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là bà Huỳnh Thị H chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là ông Nguyễn Đình B đã được Tòa án triệu tập đến làm việc nhưng các phiên làm việc và tại phiên tòa ông B vẫn vắng mặt, không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông B ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị H; về con chung: Bà Huỳnh Thị H và ông Nguyễn Đình B có 02 người con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Huy L, sinh ngày 25-7-1998 và cháu Nguyễn Huỳnh Huy C, sinh ngày 15-10-2002. Hiện nay cháu L đã trưởng thành trên 18 tuổi nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà H có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người con chung là cháu C và bà H không yêu cầu ông B phải cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự yêu cầu của bà H về con chung và ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung bà H và ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Huỳnh Thị H và ông Nguyễn Đình B đăng ký kết hôn kết hôn vào ngày 16-11-1999 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Nay bà H yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; nơi cư trú của ông Nguyễn Đình B là xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

 [2] Ngày 14-11-2018, Tòa án mở phiên tòa để xét xử vụ án nhưng ông B vắng mặt lần thứ nhất không có lý do nên Tòa án phải hoãn phiên tòa, ấn định thời gian mở lại phiên tòa là ngày 12-12-2018 nhưng tại phiên tòa ông B vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do còn bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt bà Huỳnh Thị H và ông Nguyễn Đình B là đúng quy định tại khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

 [3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị H và ông Nguyễn Đình B đăng ký kết hôn vào ngày 16-11-1999 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến tháng 12 năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tôn trọng lẫn nhau, sinh lý của vợ chồng không hòa hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Đến ngày 20-12-2016 ông B đánh đập bà H thì hai người sống ly thân cho đến nay như trình bày của bà H là có cơ sở. Nay thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài, không thể hàn gắn được nên bà Huỳnh Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Đình B.

 [4] Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bà H, Tòa án đã tiến hành nhiều phiên hòa giải để ông B và bà H hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình nhưng các lần hòa giải và tại phiên tòa ông B đều vắng mặt điều đó chứng tỏ ông B không có thiện chí để hàn gắn tình cảm gia đình.

 [5] Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông B ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà Huỳnh Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đình B.

 [6] Về quan hệ con chung: Bà Huỳnh Thị H và ông Nguyễn Đình B có 02 người con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Huy L, sinh ngày 25-7-1998 và cháu Nguyễn Huỳnh Huy C, sinh ngày 15-10-2002. Hiện nay cháu L đã trưởng thành trên 18 tuổi nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà H có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu C. Hội đồng xét xử xét thấy trong thời gian bà H và ông B sống ly thân thì cháu Châu được bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến nay cháu Châu có cuộc sống sinh hoạt, phát triển bình thường và nguyện vọng của cháu Châu được ở với bà H. Để ổn định và không làm xáo trộn cuộc sống, sinh hoạt của cháu Châu nên cần ghi nhận giao con chung là cháu Châu cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

 [7] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Huỳnh Thị H không yêu cầu ông Nguyễn Đình B cấp dưỡng nuôi con chung nên cần ghi nhận sự tự nguyện của bà Huỳnh Thị H không yêu cầu ông Nguyễn Đình B cấp dưỡng nuôi con chung.

 [8] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị H và ông Nguyễn Đình B không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

 [9] Về án phí: Bà Huỳnh Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

 Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Huỳnh Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đình B.

Về quan hệ con chung: Bà Huỳnh Thị H và ông Nguyễn Đình B có có 02 người con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Huy L, sinh ngày 25-7-1998 và cháu Nguyễn Huỳnh Huy C, sinh ngày 15-10-2002. Hiện nay, cháu Nguyễn Huỳnh Huy Long đã trưởng thành trên 18 tuổi nên bà Huỳnh Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Huỳnh Thị H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu C.

Ông Nguyễn Đình B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Nguyễn Đình B được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng, không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị H và ông Nguyễn Đình B không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Huỳnh Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004926 ngày 07-9-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức. Bà Huỳnh Thị H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ, bà Huỳnh Thị H và ông Nguyễn Đình B có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.


24
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 61/2018/HNGĐ-ST ngày 12/12/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:61/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Đức - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:12/12/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về