Bản án 61/2018/HNGĐ-ST ngày 16/05/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 61/2018/HNGĐ-ST NGÀY 16/05/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 16 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 129/2018/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 2 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2018/QĐST- HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1990; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn 9, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Phạm Đình T, sinh năm 1988; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 20 tháng 1 năm 2018 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, nguyên đơn là chị Trần Thị N trình bày:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N và anh Phạm Đình T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 05 tháng 9 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Chị N và anh T chung sống hòa thuận hạnh phúc đến khoảng năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế, sinh hoạt dẫn tới vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm lẫn nhau, mặt khác anh Toàn chơi bời và có hành vi đánh đập chị N. Mâu thuẫn hai vợ chồng cũng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không cải thiện được mà ngày càng căng thẳng hơn. Chị N và anh T đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2015 cho đến nay. Trong thời gian ly thân chị Nvà anh T không còn quan tâm đến nhau, chị N đã về nhà mẹ đẻ ở từ thời gian đó cho tới nay. Chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

[2] Về con chung: Chị Trần Thị N khai vợ chồng có hai con chung là cháu Phạm Đình T, sinh ngày 30/3/2010 và cháu Phạm Gia T, sinh ngày 18/6/2012. Hiện cháu Phạm Đình T và cháu Phạm Gia T đang do anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Trường hợp ly hôn chị N đề nghị để anh T tiếp tục là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và cháu T. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chị đồng ý đóng góp tiền nuôi con chung với anh T là 1.000.000 đồng/1 cháu/tháng.

[3] Về tài sản chung: Chị Trần Thị N khai vợ chồng không có tài sản chung và không có vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

[4] Bị đơn là anh Phạm Đình T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng khác nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai anh Phạm Đình T vẫn vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên anh T đã có lời khai có trong hồ sơ thể hiện việc kết hôn, mẫu thuẫn vợ chồng, con chung và tài sản chung vợ chồng như chị N đã khai là đúng nhưng anh không đồng ý ly hôn vì anh vẫn còn tình cảm với chị N.

[5] Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Bị đơn là anh Phạm Đình T chưa tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu điều tra có trong hồ sơ thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị N và anh Phạm Đình T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử xử chị Trần Thị N được ly hôn anh Phạm Đình T; giao hai con cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chấp nhận đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung của chị N là 1.000.000 đồng/cháu/tháng. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị N và anh Phạm Đình T là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến khoảng năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế, sinh hoạt dẫn tới vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm lẫn nhau, mặt khác anh T chơi bời và có hành vi đánh đập chị N. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2015 cho đến nay, trong thời gian ly thân hai bên không còn quan tâm đến nhau mặc dù đã được người thân hai bên gia đình hòa giải. Anh T không đồng ý ly hôn tuy nhiên anh T không có mặt tại các buổi hòa giải cũng như tại các phiên tòa xét xử để trình bày ý kiến của mình về việc chị N xin ly hôn anh. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T, chị N là có thực, phù hợp với tài liệu xác minh của Tòa án tại gia đình và địa phương. Việc anh T không đồng ý ly hôn chỉ nhằm mục đích gây khó khăn cho chị N. Như vậy thể hiện tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh T đã trầm trọng, khả năng vợ chồng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị N về việc xin ly hôn anh Phạm Đình T.

[2] Về con chung: Chị Trần Thị N và anh Phạm Đình T có hai con chung là cháu Phạm Đình T, sinh ngày 30/3/2010 và cháu Phạm Gia T, sinh ngày 18/6/2012. Hiện cháu Phạm Đình T và cháu Phạm Gia T đang do anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Trong trường hợp ly hôn chị N đề nghị để anh T tiếp tục nuôi dưỡng hai con. Anh T không trình bày ý kiến về con chung. Việc giao con cho ai nuôi cần xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Tài liệu xác minh thể hiện từ khi vợ chồng chị N và anh T sống ly thân nhau từ năm 2015 đến nay anh T vẫn trực tiếp nuôi con, việc nuôi con của anh T vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt và đã ổn định. Vì vậy cần giao cho anh T trực tiếp nuôi con là phù hợp với Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung: Chị Trần Thị N đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000 đồng/1 cháu/tháng. Anh T không có đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung, xét đề nghị của nguyên đơn là phù hợp nên được hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về tài sản chung: Chị Trần Thị N khai vợ chồng không có tài sản chung và không có vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Anh Phạm Đình T chưa có lời khai về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N được ly hôn anh Phạm Đình T.

[2] Về con chung: Giao con chung Phạm Đình T sinh ngày 30/3/2010 và cháu Phạm Gia T, sinh ngày 18/6/2012 cho anh Phạm Đình T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Phạm Đình T, Phạm Gia T đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Phạm Đình T sinh ngày 30/3/2010 và cháu Phạm Gia T, sinh ngày 18/6/2012 với số tiền là 1.000.000 đồng mỗi cháu/tháng cho anh Phạm Đình T cho đến khi cháu Phạm Đình T, Phạm Gia T đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và anh Phạm Đình T có đơn đề nghị thi hành án khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung mà chị Trần Thị N chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành thì chị Trần Thị N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả.

[3] Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

[4] Về án phí: Chị Trần Thị N phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng định kỳ nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai số 0008768 ngày 12/02/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Trần Thị N còn phải nộp thêm 300.000 đồng.

[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


33
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 61/2018/HNGĐ-ST ngày 16/05/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:61/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về