Bản án 61/2018/HNGĐ-ST ngày 20/08/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 61/2018/HNGĐ-ST NGÀY 20/08/2018 VỀ LY HÔN

Trong ngày 20 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 306/2018/TLST-HNGĐ ngày 09/5/2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2018/QĐXX-ST ngày 19/7/2018; Quyết định hoãn phiên tòa số: 64/QĐS-ST ngày 06/8/2018. Giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Dương Thái T - Sinh: 1961

Nơi cư trú: Tổ 10c, khu 4a, P. H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Bà Hoàng Thị P - Sinh: 1968

Nơi cư trú: Tổ 10c, khu 4a, P. H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 24/4/2018, bản tự khai ngày 16/5/2018 và tại phiên tòa nguyên đơn là ông Dương Thái T trình bày: giữa nguyên đơn và bị đơn là bà Hoàng Thị P chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 05/02/1990, đăng ký kết hôn tại UBND phường Bạch Đằng, thành phố H, đăng ký kết hôn tự nguyện. Trước khi đăng ký kết hôn bà P và Tôi (T) chưa ai có vợ có chồng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bà P không lo cho gia đình chồng con, theo bạn bè xấu luôn chơi cờ bạc dẫn đến nợ, đã nhiều lần Tôi (T) bỏ qua và khuyên để vợ chồng làm lại từ đầu, nhưng bà P luôn tái diễn không thay đổi, bà bỏ nhà đi rồi lại về, việc bà P cứ đi đi rồi lại về không quan tâm đến gia đình dẫn đến Tôi (T) không chấp nhận được. Nay Tôi (T) xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho Tôi được ly hôn bà Hoàng Thị P.

- Về con: Vợ chồng sinh được 02 con chung là Dương Thanh T - sinh: 07/10/1990 và Dương Anh D - sinh: 27/11/2000. Con chung Dương Thanh T đã đến tuổi trưởng thành và phát triển bình thường; con chung Dương Anh D Tôi (T) đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi và Tôi không yêu cầu bà P cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản và nợ: Tôi (T) không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung; Cuộc sống chung vợ chồng không có khoản nợ chung nào của Nhà nước cũng như tư nhân, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là bà Hoàng Thị P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ ngày 16/5/2018 và ngày 23/5/2018, nhưng bà Hoàng Thị P đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, quan điểm trình bày của đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hôn nhân giữa ông Dương Thái T và bà Hoàng Thị P trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, được pháp luật bảo vệ. Ông T xác nhận cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bà P chơi cờ bạc dẫn đến nợ, bà P luôn tái diễn cờ bạc không thay đổi, không quan tâm đến chồng con, bà P bỏ bê chồng con không quan tâm chăm lo cho gia đình; ông T có cung cấp đến Tòa án đơn xin ly hôn do bà Hoàng Thị P đã trực tiếp viết từ năm 2012.

Ngày 22/6/2018, Tòa án nhân dân thành phố H có điều tra xác minh ở địa phương nơi ông bà chung sống, thể hiện bà P có chơi cờ bạc không quan tâm đến chồng con dẫn đến vợ chồng cãi vã. Nay tổ dân thấy bà P trốn nợ nên không thường xuyên có ở nhà, chỉ thỉnh thoảng về thăm con.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà Hoàng Thị P không có mặt tại Tòa án để có quan điểm về việc ông Dương Thái T xin ly hôn bà. Việc này chứng minh bà P không quan tâm đến cuộc sống chung và hạnh phúc vợ chồng.

Từ những phân tích trên, thấy tình cảm vợ chồng thực sự không ai quan tâm đến ai, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Dương Thái T là cần thiết.

[2] Về con: Vợ chồng có 02 con chung là Dương Thanh T - sinh: 07/10/1990 và Dương Anh D - sinh: 27/11/2000. Con chung Dương Thanh T đã đến tuổi trưởng thành và phát triển bình thường, nên Tòa án không đề cập. Con chung Dương Anh D ông T có nguyện vọng được nuôi. Xét bà P mải chơi không quan tâm đến con và cũng không đến Tòa án để có nguyện vọng xin nuôi con hay không. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con, nên chấp nhận yêu cầu được nuôi con của ông T và cung phù hợp với nguyện vọng của cháu Dương Anh D.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con:Ông Dương Thái T không yêu cầu, nên không đề cập.

[4] Về tài sản và nợ: Ông Dương Thái T không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và ông xác nhận vợ chồng không có khoản nợ nào chung của Nhà nước cũng như tư nhân. Nên không đề cập.

[5] Về án phí: Ông Dương Thái T chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, Điều 28; khoản 4, Điều 147; khoản 3, Điều 228; khoản 1, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Dương Thái T

Ông Dương Thái T được ly hôn bà Hoàng Thị P.

2. Về con:

- Giao con chung Dương Anh D - sinh: 27/11/2000 cho ông Dương Thái T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.

- Bà Hoàng Thị P không phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Bà Hoàng Thị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản và nợ: Không đề cập.

4. Về án phí: Ông Dương Thái T chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm (ông T đã nộp tạm ứng án phí ly hôn tại biên lai số: 0002800 ngày 07/5/2018, tại chi cục thi hành án dân sự thành phố H, nay chuyển thành án phí ly hôn chính thức).

Án xử công khai, có mặt ông T, vắng bà P. Báo quyền kháng cáo cho các đương sự trong thời hạn 15 ngày, ông T kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bà P kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 61/2018/HNGĐ-ST ngày 20/08/2018 về ly hôn

Số hiệu:61/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hạ Long - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về