Bản án 61/2018/HNGĐ-ST ngày 31/08/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN - THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 61/2018/HNGĐ-ST NGÀY 31/08/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 31 tháng 8 năm 2018, tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2018/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2018/QĐXX- HNGĐ ngày 23/7/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Trịnh Thị Minh Ph, sinh năm 1982

HKTT: Tổ X (nay là tổ Y), phường TL, TPTN, tỉnh TN Chỗ ở: Tổ Z, phường ThĐ, TPTN, tỉnh TN

Bị đơn: Anh Bùi Đức S, sinh năm 1977

HKTT: Tổ X (nay là tổ Y), phường TL, TPTN, tỉnh TN. (Chị Ph, anh S vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

[Tại đơn xin ly hôn ngày 04/3/2018 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 13/03/2018, bản tự khai, biên bản hoà giải nguyên đơn chị Trịnh Thị Minh Ph trình bày:

Chị và anh Bùi Đức S kết hôn vào năm 2005, có đăng ký kết hôn UBND phường TL, TPTN, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng ban đầu hạnh phúc. Sau một thời gian cuộc sống vợ chồng xuất hiện nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh S không quan tâm đến gia đình, hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Hai bên gia đình nhiều lần đã giảng hòa nhiều lần nhưng không có kết quả. Đến năm 2013, anh S bỏ gia đình đi làm ăn xa, ít hỏi han thăm nom gia đình. Vợ chồng chị ly thân từ đó đến nay.

Tại bản tự khai anh S trình bày: Anh và chị Phg có đăng ký kết hôn UBND phường TL, TPTN, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện vào năm 2005. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau một thời gian cuộc sống vợ chồng xuất hiện nhiều mâu thuẫn bất đồng quan điểm, vợ chồng ly thân từ năm 2013 cho đến nay, chị Ph có đơn xin ly hôn anh, anh cũng nhất trí.

Về con chung: Hai bên đương sự xác định trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung, tên Bùi Gia Kh, sinh ngày 23/9/2006. Hiện con chung đang sống cùng với chị Ph.

Quan điểm chị Ph: Cháu Kh ở với chị từ bé, chị đang là Giáo viên tại Trường CĐ Z TN với mức lương 6 triệu/tháng nên chị có đủ khả năng nuôi con, chị không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con

Quan điểm anh S: Sau khi ly hôn, anh đồng ý để chị Ph nuôi con, hiện anh S chưa có khả năng về kinh tế, khi nào anh có điều kiện anh sẽ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự đều xác định trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai cũng như không cho ai vay nợ nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa , Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân gia đình về việc yêu cầu ly hôn giữa nguyên đơn Trịnh Thị Minh Ph, sinh năm 1982; HKTT: Tổ X (nay là tổ Y), phường TL, TPTN, tỉnh TN; Chỗ ở: Tổ Z, phường Th Đ, TPTN, tỉnh TN và anh Bùi Đức S, sinh năm 1977; HKTT: Tổ X (nay là tổ Y), phường TL, TPTN, tỉnh TN. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã giải quyết theo đúng quy định pháp luật. Trong qúa trình giải quyết vụ án anh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, niêm yết công khai tại địa phương các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh S vẫn cố tình vắng mặt, không hợp tác với Tòa án do đó vụ án không tiến hành hòa giải được. Căn cứ vào Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa ngày 31/8/2018 mặc dù đã được Tòa án đã tống đạt, niêm yết giấy triệu tập hợp lệ đồng thời anh S và chị Ph đều có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a,b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Ph, anh S.

[2]Về nội dung vụ án:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Minh Ph và anh Bùi Đức S được tìm hiểu yêu thương nhau tự nguyện, không bị ai ép buộc, kết hôn đủ điều kiện và có đăng ký kết hôn ngày 16/11/2005 tại UBND xã TL (nay là phường TL), TPTN, tỉnh TN, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh S không quan tâm đến gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Hai bên gia đình nhiều lần đã giảng hòa nhưng không có kết quả, đến năm 2013, anh S đi làm ăn xa, từ đó cũng ít hỏi han thăm nom gia đình, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, anh S cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn như chị Ph trình bày, chị Ph đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, anh S cũng nhất trí. Tuy nhiên do các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ vào những lời khai trên HĐXX có đủ căn cứ để xác định giữa chị Ph và anh S hiện nay không có sự thương yêu, quý trọng, sự chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, mặc dù mâu thuẫn đã được 2 bên gia đình hòa giải nhưng vẫn không cải thiện được do đó tình trạng hôn nhân đã ở mức mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả 2 bên nên cần chấp yêu cầu xin ly hôn của chị Ph, cho chị Ph được ly hôn với anh S là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Trong qúa trình chung sống giữa chị Ph và anh S có 01 con chung là Bùi Gia Kh, sinh ngày 23/9/2006. Chị Ph có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con, anh S nhất trí. Hội đồng xét xử xét thấy các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên từ khi sinh ra đến nay cháu Kh đều ở với chị Ph, hiện chị đang là giáo viên và thu nhập ổn định đồng thời anh S cũng nhất trí giao con cho chị Ph nuôi dưỡng do đó giao cháu Kh cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cho tới khi cháu Kh thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và phù hợp với thực tế.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Ph không yêu cầu, nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh S cho đến khi chị Ph có yêu cầu.

Anh S được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Do các bên xác định không có, không đề nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí: Chị Ph phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271; điểm a,b khoản 2 Điều 227; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của chị Trịnh Thị Minh Ph.

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trịnh Thị Minh Ph được ly hôn với anh Bùi Đức S.

2. Về con chung: Giao cho chị Trịnh Thị Minh Ph trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con chung là Bùi Gia Kh, sinh ngày 23/9/2006 đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có thỏa thuận khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Ph không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con, nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh S cho đến khi chị Ph có yêu cầu.

Anh S được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

Đối với quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3.Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Ph và anh S xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trịnh Thị Minh Ph phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006079 ngày 13/03/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Báo cho chị Ph, anh S biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 61/2018/HNGĐ-ST ngày 31/08/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:61/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:31/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về