Bản án 61/2019/HS-ST ngày 23/07/2019 về tội tàng trữ hàng cấm  

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

 BẢN ÁN 61/2019/HS-ST NGÀY 23/07/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ HÀNG CẤM

Trong các ngày, từ ngày 19/7/2019 đến ngày 23/7/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2019/TLST-HS, ngày 10 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2019/QĐXXST-HS, ngày 20 tháng 5 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa lần 1 số 17/2019/HSST-QĐ, ngày 30/5/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa lần 2 số 19/2019/HSST-QĐ, ngày 26/6/2019 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Văn T; tên gọi khác: Không. Sinh ngày 18/9/1994 tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Văn V (Hoàng Quang V) và bà Hà Thị N; có vợ là Hoàng Thị H và 02 con (01 con mới sinh tháng 6/2019); tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/01/2019 đến ngày 20/01/2019 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, có mặt.

2. Hoàng Thị N, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 14/8/1985 tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã X, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Văn T và bà Lành Thị I; có chồng là Hà Hải C và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/01/2019 đến ngày 20/01/2019 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Có mặt.

- Người chứng kiến:

Anh Vy Văn B, có mặt.

Anh Phạm Văn K, có mặt.

Anh Nguyễn Mạnh H, có mặt.

Anh Lục Trung D, vắng mặt.

Anh Vũ Hồng Q, vắng mặt.

Anh Hứa Phú T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hi 17 giờ 15 phút ngày 17/01/2019, Tổ công tác Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại khu Lò Rèn, thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc phát hiện 01 người phụ nữ đang cầm trên tay 01 túi nilon màu đen đi vào một phòng trọ có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện bên trong túi nilon người phụ nữ đang xách có 02 giàn pháo loại 36 lỗ/giàn. Đối tượng khai nhận là Hoàng Thị N, sinh năm 1985, tạm trú tại: Khu L, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, số pháo này N mua với một người đàn ông không quen biết tại khu vực chợ Đồng Đăng để đốt trong dịp tết Nguyên đán. Sau đó N tự nguyện giao nộp 03 giàn pháo loại 36 lỗ/giàn, 72 quả pháo trứng, 24 quả pháo hình trụ tròn trong phòng trọ của N. N khai đây là số pháo của Hoàng Văn T gửi nhờ.

Khi cơ quan Công an đang khám phòng trọ của N thì T đến lấy pháo và bị bắt giữ.

Tại biên bản xác định trọng lượng và chủng lượng pháo nổ của Công an huyện Cao Lộc lập hồi 20 giờ 20 phút ngày 17/01/2019 xác định: 05 giàn pháo loại 36 lỗ/giàn có trọng lượng 7,5 kg; 72 quả pháo trứng có trọng lượng 02 kg; 24 quả pháo hình trụ có trọng lượng 2,5 kg. Tổng trọng lượng là 12 kg. Số pháo của Hoàng Văn T gửi có trọng lượng 09 kg.

Ti cơ quan điều tra Hoàng Văn T khai nhận: Thưởng là lao động tự do tại khu vực cửa khẩu Cốc Nam, huyện Văn Lãng. Ngày 16/01/2019, khi đang làm việc T có gặp 01 người đàn ông không quen biết khoảng 50 tuổi, người này hỏi T có mua pháo không thì T đồng ý và mua với người này 03 giàn pháo loại 36 lỗ/giàn, 72 quả pháo trứng, 24 quả pháo hình trụ tròn với giá 1.500.000đồng để mang về đốt trong dịp tết Nguyên đán. Sau đó T mang số pháo trên về phòng trọ của chị Hoàng Thị N ở khu Lò Rèn, thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn nói với N đây là bọc hàng giầy dép mua trên mạng và gửi nhờ ở đó. Khi T về, N mở hàng ra xem thấy là pháo. Hôm sau N ra chợ Đồng Đăng, huyện Cao Lộc gặp một người đàn ông không quen biết hỏi có mua pháo không, N đồng ý mua 02 giàn pháo nổ loại 36 lỗ/giàn với giá 200.000 đồng. Khi đang trên đường về phòng trọ thì bị bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 63/KL-PC09 ngày 21/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn xác định: Các mẫu vật gửi giám định đều có chứa thuốc pháo; khi đốt đều gây ra tiếng nổ.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKS, ngày 29 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo Hoàng Thị N, Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c, khoản 1, Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thị N liên tục thay đổi lời khai: Lúc thì khai ngày 16/01/2019, khi bị cáo đang ở nhà thì có Hoàng Văn T đến phòng trọ nhờ gửi bọc giày dép mua qua mạng, khi nhận N chỉ biết đó là giày dép. Sau khi T về do tò mò nên N mở gói hàng ra xem và biết đó là pháo nổ. Vì quen biết T, do nể nang nên bị cáo không báo Công an cho đến khi bị Công an bắt. Lúc thì bị cáo khai, T mượn chìa khóa phòng trọ của bị cáo để tắm nhờ, bị cáo cùng chồng về quê từ chiều ngày 16/01/2019, hôm sau từ Văn Quan ra sang Trung Quốc làm luôn đến 17h30 chiều ngày 17/01/2019 thì bị bắt giữ, lúc đó mới biết có túi pháo T để dưới gầm giường. Lúc thì bị cáo khai, chiều ngày 16/01/2019, bị cáo T hỏi mượn chìa khóa phòng trọ của bị cáo, bị cáo đồng ý cho mượn và chỉ chỗ để chìa khóa. Sau đó bị cáo cùng chồng về quê ở Bản D, xã X, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Sáng hôm sau khoảng 7h30, bị cáo từ huyện V ra qua phòng trọ, thấy túi đồ T gửi đã mở ra xem và biết đó là pháo nổ nhưng do nể nang nên không báo Công an. Tuy nhiên, bị cáo khẳng định lời khai sau cùng là đúng, thời điểm bị cáo biết đó là pháo của T là vào sáng ngày 17/01/2019. Đối với số pháo 03 kg bị cáo mua với một người đàn ông không quen biết về để đốt trong dịp tết, bị cáo thừa nhận hành vi cho T gửi pháo và mua pháo về để đốt là vi phạm pháp luật.

Bị cáo Hoàng Văn T cũng thay đổi lời khai: Lúc thì bị cáo khai do muốn có pháo để đốt trong dịp tết Nguyên đán nên ngày 16/01/2019, khi đang làm việc T có gặp 01 người đàn ông không quen biết khoảng 50 tuổi, người này hỏi T có mua pháo không thì T đồng ý và mua với người này 03 giàn pháo loại 36 lỗ/giàn, 72 quả pháo trứng, 24 quả pháo hình trụ tròn với giá 1.500.000đồng. Sau đó T mang số pháo trên về phòng trọ của chị Hoàng Thị N ở khu Lò Rèn, thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn nói với N đây là bọc hàng giầy dép mua trên mạng và gửi nhờ ở đó. Ngày hôm sau 17/01/2019 khi T đến chỗ N lấy pháo thì bị bắt. T thừa nhận số pháo gửi chỗ N là của T nhưng khi gửi T nói dối N là giầy dép, N không biết đó là pháo nổ, giữa T và N không bàn bạc việc mua pháo, gửi pháo. Lúc thì bị cáo khai, ngày 16/01/2019, bị cáo gọi điện thoại cho N mượn chìa khóa phòng trọ của N và sau đó mang pháo vào đó gửi, sáng ngày 17/01/2019, bị cáo gọi điện thoại cho N nói gửi hàng giày dép tại phòng trọ của N.

Tuy nhiên, bị cáo khảng định lời khai sau cùng là đúng. Bị cáo nhận thức được hành vi mua pháo về để đốt trong dịp tết Nguyên đán là vi phạm pháp luật.

Ti phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Đối với 03 kg pháo của bị cáo N có dấu hiệu tội “Vận chuyển hàng cấm”, tuy nhiên chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nên đề nghị Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính. Đề nghị thay đổi tội danh đối với bị cáo T từ tội “Tàng trữ hàng cấm” sang tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 191; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 65 đối với 02 bị cáo; áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn T;

Về hình phạt chính:

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị N và bị cáo Hoàng Văn T từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng vì các bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định.

Về xử lý vật chứng: Số pháo và bao bì đựng pháo cơ quan Công an đã tiêu hủy theo quy định.

c bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời nói sau cùng, các bị cáo đều cho rằng hành vi của mình là sai với quy định của pháp luật, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất vì còn con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Mặc dù tại phiên tòa các bị cáo liên tục thay đổi lời khai nhằm quanh co chối tội. Nhưng sau đó lại thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với biên bản xác định trọng lượng pháo ngày 17/01/2019; phù hợp với kết luận giám định số 63/KL-PC09 ngày 21/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định, bị cáo Hoàng Văn T là người mua 09 kg pháo nổ mang về phòng trọ của Hoàng Thị N gửi. Mặc dù lúc đầu Hoàng Thị N không biết đó là pháo nổ nhưng sau đó đã mở ra xem và biết đó là pháo nổ nhưng không báo cơ quan có thẩm quyền. Như vậy N đã tiếp nhận ý chí của T, cất giữ giúp T 09 kg pháo nổ. Hành vi của bị cáo Hoàng Văn T và Hoàng Thị N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c, khoản 1, Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố đối với hai bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo mặc dù thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến chính sách quản lý một số hàng hóa của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội. Khi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, do vậy các bị cáo có đủ khả năng để nhận thức việc tàng trữ pháo nổ là trái với quy định của pháp luật nhưng vì sở thích cá nhân các bị cáo vẫn cố tình thực hiện.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo đều không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa lúc đầu các bị cáo quanh co không nhận tội, nhưng sau đó đã nhận tội do vậy vẫn áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Mỗi bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng Văn T có bố là ông Hoàng Văn V (tức Hoàng Quang V) được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng ba nên được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về nhân thân: Cả hai bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; ngoài lần phạm tội này, các bị cáo chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước do vậy, các bị cáo là người có nhân thân tốt.

[6] Đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn. Bị cáo T là người trực tiếp mua pháo về gửi chỗ bị cáo N nên giữ vai trò chính. Bị cáo N khi cho T gửi không biết đó là pháo nổ nhưng khi T đi về N đã mở ra xem và biết đó là pháo do cả nể nên N không báo Công an, đã giúp T cất giữ số pháo này nên giữ vai trò thứ yếu, sau bị cáo T. Đối với 03 kg pháo do N tự mua bằng tiền của N, T hoàn toàn không biết về số pháo này, hành vi này của N có dấu hiệu của tội “Tàng trữ hàng cấm”. Tuy nhiên, chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N đối với 03 kg pháo này.

[7] Bị cáo Hoàng Văn T, là người giữ vai trò chính nên phải chịu mức án cao hơn bị cáo N. Tuy nhiên, bị cáo T có 03 tình tiết giảm nhẹ (02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự), không có tình tiết tăng nặng; nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần cách ly khỏi xã hội, cho bị cáo cải tạo tại địa phương để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật, cải tạo thành người có ích cho xã hội.

[8] Bị cáo Hoàng Thị N là người giữ vai trò giúp sức cho bị cáo T nên chịu mức án thấp hơn bị cáo T. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng; nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần cách ly khỏi xã hội, cho bị cáo cải tạo tại địa phương là phù hợp.

[9] Đối với 03 (Ba) kg pháo bị cáo N mua về để đốt trong dịp tết Nguyên đán. Do chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N về tội “Tàng trữ hàng cấm” nên kiến nghị Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Thị N.

[10] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4, Điều 191 của Bộ luật Hình sự người có hành vi “Tàng trữ hàng cấm” còn có thể bị xử phạt hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000đồng. Nhưng xét thấy các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả hai bị cáo.

[11] Về vật chứng: Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc đã tiêu hủy toàn bộ số lượng pháo và bao bì đựng pháo nên Hội đồng xét xử không xem xét. [12] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[14] Người đàn ông bán pháo cho Hoàng Văn T và Hoàng Thị N do không biết tên, tuổi, địa chỉ, cơ quan điều tra không làm rõ được nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét.

[15] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị thay đổi về tội danh từ tội “Tàng trữ hàng cấm” sang tội “Vận chuyển hàng cấm” đối với bị cáo Hoàng Văn T là không phù hợp do bị cáo T mua 09 kg pháo về để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển thuê hoặc vận chuyển hộ cho người khác. Mặc dù nơi tàng trữ pháo không phải là nơi ở của T nhưng việc T gửi N cất giữ số pháo trên là thủ đoạn nhằm che giấu hành vi phạm tội để không bị phát hiện. Do đó hành vi của bị cáo T cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” mới phù hợp. Bị cáo N đã mở ra xem và biết đó là pháo nổ do T gửi nhưng vẫn cất giữ giúp T tại nơi ở của mình mà không trả lại cho T hoặc báo cho cơ quan chức năng. N biết rõ số hàng T gửi là pháo nổ nhưng vẫn cất giữ cho T là giúp sức cho T trong việc tàng trữ số pháo trên. Do đó, N đồng phạm với T về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Đối với mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[16] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

n cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 191; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 65; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với 02 bị cáo Hoàng Văn T và Hoàng Thị N;

n cứ thêm khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn T;

n cứ khoản 2 Điều 136; Điều 331; 332; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn T, Hoàng Thị N phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

2. Về hình phạt:

- Hình phạt chính:

+ Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/7/2019). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

+ Xử phạt bị cáo Hoàng Thị N 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/7/2019). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã X M, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo Hoàng Văn T và Hoàng Thị N.

3. Về án phí: Các bị cáo Hoàng Văn T và Hoàng Thị N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 61/2019/HS-ST ngày 23/07/2019 về tội tàng trữ hàng cấm  

Số hiệu:61/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cao Lộc - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 23/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về