Bản án 62/2017/HC-PT ngày 15/03/2017 về thu hồi đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 62/2017/HC-PT NGÀY 15/03/2017 VỀ THU HỒI ĐẤT

Ngày 15 tháng 3 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 27/2016/TLPT-HC ngày 26 tháng 4 năm 2016, do có kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 41/2015/HCST ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 351/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2017 giữa:

* Người khởi kiện: Ông Trần Văn Để, sinh năm 1956; có mặt.

Địa chỉ: xóm Già, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện: Ông Lê Văn Phúc, sinh năm 1982; trú tại: Khu 7, thị trấn Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định;

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Phạm Đình Mậu - Phó Chủ tịch thường trực UBND huyện Vụ Bản; có mặt.

NHẬN THẤY

Dự án đầu tư xây dựng Khu công nghiệp (KCN) Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định nằm trong danh mục các Khu công nghiệp được ưu tiên thành lập mới đến năm 2015 và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020”.

Để triển khai và thực hiện dự án, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 2189/QĐ-UBND ngày 27/9/2007, nội dung: Giao Công ty cổ phần đầu tư Vinatex thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam là chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN Bảo Minh.

Căn cứ Quyết định số 01/2007/QĐ-UBND ngày 11/01/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định “Về việc phân cấp quản lý tổ chức thực hiện công tác GPMB trên địa bàn tỉnh Nam Định”; ngày 08/01/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 477/QĐ-UBND “Về việc phê duyệt Phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định”.

Ngày 28/3/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 660/QĐ-UBND “Về việc thu hồi giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN Bảo Minh tại huyện Vụ Bản” với tổng diện tích thu hồi 1.653.247,2m2 đất thuộc địa phận 3 xã Liên Minh, Liên Bảo, Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Ngày 07/4/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 757/QĐ-UBND và Quyết định số 758/QĐ-UBND về việc “Thu hồi đất của hộ gia đình cá nhân” đối với hộ gia đình ông Trần Văn Để với tổng số đất bị thu hồi theo hai quyết định này là 2.472m2 đất thuộc thửa đất số 3067 và thửa số 3087, tờ bản đồ địa chính số 11 tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản (bản đồ chỉnh lý đồn điền đổi thửa xã Kim Thái năm 2004).

Quá trình xem xét bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án được tiến hành như sau:

Ngày 30/8/2007, UBND huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 1308/QĐ-UBND về việc thành lập Hội đồng đền bù thiệt hại giải phóng mặt bằng Khu công nghiệp Bảo Minh.

Ngày 08/01/2008, UBND huyện Vụ Bản ban hành Quyết định 477/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án tổng thể bồi thường, hỗ trợ GPMB Khu công nghiệp Bảo Minh.

Ngày 20/5/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 2789/QĐ-UBND về việc:“Phê duyệt Phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ, GPMB dự án khu công nghiệp Bảo Minh của hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Kim Thái”, cụ thể như sau:

- Tổng số hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp: 155 hộ;

- Tổng diện tích thu hồi: 237.984,5m2;

- Tổng kinh phí: 7.615.504.000đ.

(Có danh sách phương án chi tiết các hộ kèm theo).

 Ngày 06/8/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 16/QĐ-UBND về việc điều chỉnh mức hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Căn cứ quyết định trên, ngày 28/11/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 5270/QĐ-UBND về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ bổ sung theo Quyết định số 16/2008/QĐ-UBND của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Kim Thái”; có nội dung như sau:

- Tổng số hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp: 155 hộ;

- Tổng diện tích thu hồi: 237.984,5m2;

- Tổng kinh phí phê duyệt bổ sung: 237,984,5m2 x 3.000 đồng/m2 = 713.953.000đ.

(Có danh sách phương án chi tiết các hộ kèm theo).

Mức bồi thường, hỗ trợ bổ sung 3.000đ/m2 được áp dụng đối với tất cả các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp không kể tỷ lệ thu hồi đất. Riêng các hộ bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp sẽ có phương án chi tiết riêng theo tiêu chuẩn giao đất làm dịch vụ được phê duyệt.

Ngày 31/12/2010, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 3736/QĐ-UBND về việc “Phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ cho các hộ thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp dể GPMB xây dựng Khu công nghiệp Bảo Minh thuộc xã Kim Thái,, huyện Vụ Bản”.

Sau khi có Quyết định số 477/QĐ-UBND ngày 08/01/2008 về việc “Phê duyệt Phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định”; ngày 8-10/01/2008, Hội đồng đền bù GPMB xây dựng phương án đền bù, hỗ trợ chi tiết GPMB khu công nghiệp Bảo Minh của các xã Liên Minh, Liên Bảo, Kim Thái. Phương án đã xác định diện tích thu hồi của từng hộ, đơn giá bồi thường như sau: Tiền đất là 27.000 đồng/m2, các khoản hỗ trợ là 5.000 đồng/m2, tổng cộng là 32.000 đồng/m2; các hộ gia đình có đất bị thu hồi đã đồng ý và ký nhận vào phương án. Ngày 25 - 29/01/2008, Hội đồng đền bù GPMB tiến hành chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án đã ký nhận. Tất cả các hộ đều đã ký nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và ký biên bản bàn giao mặt bằng cho Hội đồng đền bù GPMB huyện Vụ Bản.

Sau khi ký nhận tiền bồi thường, hỗ trợ một số hộ dân trong đó có hộ ông Trần Văn Để không nhất trí đã làm đơn khiếu nại về việc thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản. Ngày 26/6/2012, ông Trần Văn Để có đơn khởi kiện vụ án hành chính và trình bày: Gia đình ông bị thu hồi 2.472m2 đất nông nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xây dựng Khu công nghiệp Bảo Minh. Ông Để không nhất trí với các quyết định thu hồi, bồi thường hỗ trợ, giải phóng mặt bằng với các lý do:

- UBND huyện Vụ Bản chỉ thông báo việc thu hồi đất trên loa đài; không niêm yết và thông báo cụ thể đến từng hộ dân theo quy định tại Điều 52; không giao quyết định thu hồi đất theo quy định tại Điều 53 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ “Quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”;

- Việc kê khai, kiểm kê xác định nguồn gốc đất đai đã thực hiện trước khi ban hành Quyết định thu hồi đất (Điều 55 Nghị định 84);

- Lập, thẩm định và xét duyệt phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư UBND huyện Vụ Bản không niêm yết công khai và thực hiện theo trình tự luật định (Điều 56 Nghị định 84);

- Phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư UBND huyện Vụ Bản không công khai và thực hiện theo trình tự luật định (Điều 57 Nghị định 84);

- Thời điểm bàn giao đất đã thu hồi (Điều 59 Nghị định 84) đến nay người dân chưa đồng ý với việc thu hồi đất của UBND huyện Vụ Bản nên chưa nhận được tiền;

- Pháp luật quy định chỉ được ra quyết định cưỡng chế thu hồi khi đã thực hiện đúng trình tự thu hồi; người bị thu hồi đã nhận được quyết định thu hồi… (Điều 60 Nghị định 84) nhưng ngày 20/12/2010 UBND huyện Vụ Bản đã tổ chức cưỡng chế nhưng không có quyết định cưỡng chế;

- Trong quá trình thu hồi đất chính quyền các cấp đã gây phẫn nộ trong nhân dân vì 02 lý do chính như sau: Không áp dụng giá đền bù theo nguyên tắc giá thị trường tại thời điểm trả tiền bồi thường. Không thu hồi đất theo đúng trình tự thủ tục luật định. Do đó đại diện hộ gia đình ông Trần Văn Để đề nghị Tòa án tuyên hủy quyết định thu hồi đất số 757, 758 và các Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB số 2789, 5270, 3736 của UBND huyện Vụ Bản và buộc UBND huyện Vụ Bản bồi thường về tổn thất tinh thần cho gia đình ông Trần Văn Để số tiền 1.000 đồng.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 41/2015/HC-ST ngày 20/10/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định quyết định: căn cứ điểm a khoản 2 Điều 163 Luật tố tụng hành chính; xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Để yêu cầu hủy Quyết định số 757/QĐ-UBND và Quyết định số 758/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của UBND huyện Vụ Bản “Về việc thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân” và Quyết định số 2789/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 của UBND huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Kim Thái”; Quyết định số 5270/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 của UBND huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB bổ sung theo quyết định số 16/2008/QĐ-UBND của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Kim Thái”; Quyết định số 3736/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 “V/v phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ cho các hộ thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp để GPMB xây dựng khu công nghiệp Bảo Minh, thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản”.

Ngày 24/11/2015, ông Lê Văn Phúc đại diện theo uỷ quyền của ông Trần Văn Để kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, ông Trần Văn Để vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy Quyết định số 757 và 758/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản và các quyết định khác có liên quan, vì cho rằng các quyết định này trái pháp luật; đồng thời buộc Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản thực hiện lại việc thu hồi đất theo đúng trình tự, thủ tục và bồi thường số tiền tổn thất tinh thần là 1.000đ cho hộ gia đình ông Trần Văn Để.

Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản có ý kiến cho rằng các quyết định gồm: Quyết định số 757 và 758/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 thu hồi đất của hộ gia đình ông Trần Văn Để; Quyết định số 2789/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Kim Thái”; Quyết định số 5270/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 và Quyết định số 3736/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 đều của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản được ban hành đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Lê Văn Phúc, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Về thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng, các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật và đơn kháng cáo của ông Lê Văn Phúc là hợp lệ. Về nội dung, các Quyết định số 757, 758/QĐ-UBND ngày 07/4/2008, Quyết định số 2789/QĐ-UBND ngày 20/5/2008, Quyết định số 5270/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 và Quyết định số 3736/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành có căn cứ, đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật. Đối với người kháng cáo còn cho rằng, việc Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản cưỡng chế thu hồi đất đất nhưng không ra quyết định là vi phạm pháp luật; Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thấy rằng do các hộ dân (trong đó có hộ ông Để) đều đã tự nguyện giao đất, nên Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản không ra quyết định cưỡng chế là đúng. Việc đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 1.000đ là không có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của ông Lê Văn Phúc, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến trình bày của người khởi kiện, của người bị kiện, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.

XÉT THẤY

I/ Về thủ tục tố tụng:

1. Đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là các quyết định:

 - Quyết định số 757, 758/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Trần Văn Để.

- Quyết định số 2789/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Kim Thái” (phần liên quan đến hộ ông Trần Văn Để).

- Quyết định số 5270/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB bổ sung theo Quyết định số 16/2008/QĐ-UBND ngày 06/8/2008” (phần liên quan đến hộ ông Trần Văn Để).

- Quyết định số 3736/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 về việc phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ cho các hộ thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp để thực hiện dự án Khu công nghiệp Bảo Minh (phần liên quan đến hộ ông Trần Văn Để).

2. Thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án:

Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, điểm g khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính; Điều 3 Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về việc thi hành Luật tố tụng hành chính.

3. Đơn kháng cáo của đương sự:

Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Lê Văn Phúc (đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện) có đơn kháng cáo hợp lệ, được gửi trong thời hạn theo quy định tại các Điều 174, Điều 175 và Điều 176 Luật tố tụng hành chính.

II/ Về nội dung:

1. Xét tính hợp pháp đối với Quyết định số 757, 758/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản “về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Trần Văn Để”:

- Về trình tự thủ tục ban hành quyết định:

Sau khi thành lập Hội đồng đền bù GPMB, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã ra Thông báo số 31/TB-UBND ngày 13/10/2007 thông báo về chủ trương thu hồi đất GPMB thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu công nghiệp Bảo Minh tại 03 xã Liên Minh, Liên Bảo, Kim Thái thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Ngày 22/10/2007, Ủy ban nhân dân xã Liên Bảo đã tổ chức họp dân thông báo chủ trương thu hồi đất sau đó niêm yết quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh của xã. Hội đồng đền bù đã tiến hành đo vẽ, lập hồ sơ thu hồi đất (danh sách kiến điền) và lập phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ GPMB.

Ngày 28/3/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định 660/QĐ-UBND v/v thu hồi đất giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN Bảo Minh tại huyện Vụ Bản.

Ngày 07/4/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã ban hành Quyết định số 757, 758/QĐ-UBND về việc thu hồi đất đối với hộ gia đình ông Trần Văn Để.

Như vậy, trình tự, thủ tục ban hành quyết định số 757, 758/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản “Về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Trần Văn Để” phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về thẩm quyền ban hành quyết định:

Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 757, 758/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 “Về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Trần Văn Để” là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 98 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003; khoản 2 Điều 44 Luật đất đai; điểm d Điều 53 Nghị định 84/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; Quyết định 660/QĐ-UBND ngày 28/3/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định về việc thu hồi đất GPMB để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản.

- Về nội dung quyết định:

Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020”, trong đó có Dự án đầu tư xây dựng Khu công nghiệp (KCN) Bảo Minh thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định; để thực hiện dự án, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 660/QĐ-UBND ngày 28/3/2008 thu hồi đất tổng thể và Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ra Quyết định số 757, 758/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 “Về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Trần Văn Để” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật đất đai năm 2003 vì mục đích phát triển kinh tế. 

Quyết định số 757, 758/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã thu hồi của hộ ông Trần Văn Để diện tích 2.472m2 đất nông nghiệp thuộc thửa số 3067 và 3087, Tờ bản đồ địa chính số 11 xã Kim Thái năm 2004. Tại đơn khởi kiện, các lời khai của ông Để và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện diện tích đất bị thu hồi là 2.472m2 đất nông nghiệp phù hợp với diện tích và loại đất được thể hiện trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà hộ gia đình ông Để được cấp.

Do vậy, việc Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 757, 758/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Trần Văn Để  là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

2. Xét tính hợp pháp đối với các quyết định của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản gồm: Quyết định số 2789/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Kim Thái”; Quyết định số 5270/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 đều của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung GPMB Khu công nghiệp Bảo Minh và Quyết định số 3736/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 về việc phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ cho các hộ thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp để thực hiện dự án Khu công nghiệp Bảo Minh (có danh sách phương án chi tiết các hộ kèm theo, trong đó có hộ ông Trần Văn Để):

- Về trình tự thủ tục ban hành các quyết định:

Trong quá trình chuẩn bị hồ sơ địa chính cho khu đất bị thu hồi, Hội đồng đền bù GPMB đã tiến hành kê khai kiểm kê, xác định nguồn gốc đất đai, diện tích đất phải thu hồi. Các hộ gia đình có đất bị thu hồi đã ký xác nhận diện tích đất, loại đất bị thu hồi, nên sau khi có quyết định thu hồi đất không tiến hành kê khai lại nữa.

Ngày 20/5/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 2789/QĐ-UBND về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Kim Thái”.

Sau khi Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-UBND ngày 06/8/2008 về việc điều chỉnh mức hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Quyết định 507/QĐ-UBND ngày 12/02/2007, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định 5270/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung GPMB Khu công nghiệp Bảo Minh.

Ngày 31/12/2010, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 3736/QĐ-UBND về việc giao đất dịch vụ đối với những hộ gia đình bị thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp được giao.

- Về thẩm quyền ban hành quyết định:

Việc Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 2789/QĐ-UBND ngày 20/5/2008, Quyết định số 5270/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 và Quyết định số 3736/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 98 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003; Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.

- Về nội dung các quyết định:

Tại Quyết định số 2789/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 và Quyết định số 5270/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản và phương án chi tiết kèm theo đã phê duyệt bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi các khoản sau:

Bồi thường giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp là 27.000đ/m2; hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm là 5.000đ/m2 và hỗ trợ thêm 3.000đ/m2. Tổng các khoản bồi thường và hỗ trợ là 35.000đ/m2. Hộ gia đình ông Trần Văn Để bị thu hồi diện tích 2.472m2 đất nông nghiệp được nhận bồi thường, hỗ trợ tổng số tiền là: 35.000đ/m2 x 2.472m2 = 86.520.000 đồng. Hộ gia đình ông Để đã nhận số tiền bồi thường, hỗ trợ đợt một là 79.104.000 đồng.

+ Xét việc Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản áp giá đất 27.000đ/m2 để tính bồi thường cho các hộ dân có đất bị thu hồi:

Tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 197/NĐ-CP quy định: “Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do UBND cấp tỉnh công bố theo quy định của Chính phủ” và tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 197/NĐ-CP quy định: “Hộ gia đình cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định này”.

Trên cơ sở Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ quy định về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và Nghị định 123/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ quy định về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP; Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định 3194/2007/QĐ-UBND ngày 20/12/2007 quy định về giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Nam Định năm 2008. Tại điểm a khoản 1 Điều 4 của Quyết định đã quy định giá đất trồng cây hàng năm tại các huyện (trong đó có huyện Vụ Bản) là 27.000đ/m2.

Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã phê duyệt giá đất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm) là 27.000 đồng/m2 để tính bồi thường cho hộ ông Trần Văn Để theo Quyết định 2789/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 là có căn cứ pháp luật.

+ Xét về chính sách hỗ trợ đối với người có đất bị thu hồi:

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 29, Điều 32 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ; khoản 3, 4, 5 Điều 4 Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ quy định sửa đổi bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003; Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 507/QĐ-UBND ngày 12/02/2007 quy định về chính sách hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nam Định.

Căn cứ Quyết định 507/2007/QĐ-UBND, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã ban hành Quyết định 2789/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 phê duyệt các khoản hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm là 5.000đ/m2.

Sau khi Ủy ban nhân dân huyện tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 16/QĐ-UBND điều chỉnh mức hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Quyết định 507/QĐ-UBND ngày 12/02/2007; Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định 5270/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 phê duyệt bổ sung tăng các khoản hỗ trợ thêm 3.000đ/m2.

Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã phê duyệt tổng các khoản hỗ trợ là 8.000đ/m2 cho các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi phù hợp với các quy định của pháp luật; hộ gia đình ông Trần Văn Để cũng được nhận các khoản hỗ trợ này.

+ Xét việc hỗ trợ đất dịch vụ:

Căn cứ vào Quyết định 3736/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản thì đối với những hộ gia đình bị thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp được giao thì được giao đất dịch vụ đã có cơ sở hạ tầng với giá là 205.000đ/m2, hộ nào không nhận đất thì được nhận tiền là 205.000đ/m2.

 Hộ gia đình ông Trần Văn Để bị thu hồi diện tích 2.472m2 đất nông nghiệp (thu hồi 34,58% đất nông nghiệp được giao) lớn hơn 30%, nên được giao đất dịch vụ là 60m2 theo Quyết định số 3736/QĐ-UBND. Trường hợp nếu hộ gia đình ông Để không nhận đất dịch vụ thì được nhận tiền theo quy định trên. Do hộ ông Để chưa đến nhận, nên Hội đồng bồi thường GPMB huyện Vụ Bản đã gửi số tiền này cùng số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất nông nghiệp còn lại mà ông Để chưa đến nhận vào tài khoản tiền gửi của Chi nhánh Ngân hàng Agribank huyện Vụ Bản mang tên ông Trần Văn Để.

Từ các căn cứ nêu trên, thấy rằng việc Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành các Quyết định số 2789/QĐ-UBND ngày 20/5/2008; Quyết định số 5270/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 và Quyết định 3736/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 về việc bồi thường, hỗ trợ GPMB và hỗ trợ đất dịch vụ cho hộ gia đình ông Trần Văn Để là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật quản lý đất đai.

+ Xét các yêu cầu khác của người khởi kiện:

Người khởi kiện cho rằng việc cưỡng chế thu hồi đất Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản là trái pháp luật vì không ra quyết định cưỡng chế. Hội đồng xét xử thấy rằng do các hộ dân (trong đó có hộ gia đình ông Để) đều đã tự nguyện giao đất cho Nhà nước, nên Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản không ra quyết định cưỡng chế và không có việc cưỡng chế xảy ra như nội dung mà ông Trần Văn Để khiếu kiện.

 Việc người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Uỷ ban nhân dân huyện Vụ Bản phải bồi thường cho hộ ông Trần Văn Để số tiền 1.000 đồng do tổn thất tinh thần là không có cơ sở để xem xét, vì theo quy định của pháp luật tố tụng thì việc bồi thường thiệt hại chỉ được xem xét trong trường hợp các quyết định nêu trên của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành trái pháp luật gây ra thiệt hại thực tế cho người có đất bị thu hồi.

3. Xét việc giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Để đề nghị Tòa án xem xét, hủy Quyết định số 757, 758/QĐ-UBND ngày 07/4/2008; Quyết định số 2789/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 và Quyết định số 5270/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 và Quyết định 3736/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 đều của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản (phần có liên quan đến hộ ông Trần Văn Để) là có căn cứ pháp luật, nên cần giữ nguyên.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Trần Văn Để phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên; căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính;

QUYẾT ĐỊNH

 1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn Để; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 41/2015/HC-ST ngày 20/10/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, cụ thể như sau:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Để yêu cầu hủy Quyết định số 757/QĐ-UBND và Quyết định số 758/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của UBND huyện Vụ Bản “Về việc thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân” và Quyết định số 2789/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 của UBND huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Kim Thái”; Quyết định số 5270/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 của UBND huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB bổ sung theo Quyết định số 16/2008/QĐ-UBND của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh”; Quyết định số 3736/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 “V/v phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ cho các hộ thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp để GPMB xây dựng khu công nghiệp Bảo Minh, thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản”.

2. Ông Trần Văn Để phải chịu 200.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm. Xác nhận ông Trần Văn Để đã nộp 200.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số BB/2012/07422 ngày 27/11/2015 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


137
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 62/2017/HC-PT ngày 15/03/2017 về thu hồi đất

Số hiệu:62/2017/HC-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành:15/03/2017
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về