Bản án 62/2018/HNGĐ-ST ngày 24/09/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH  BẮC GIANG

BẢN ÁN 62/2018/HNGĐ-ST NGÀY 24/09/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 24 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 191/2018/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2018 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:60/2018/QĐXX - HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị V - Sinh năm 1997

Trú quán: N N – K T – L Ng – Bắc Giang ( Có mặt).

Bị đơn: Anh Nông Văn M – Sinh năm 1995

Trú quán: N N – K Th – L Ng – Bắc Giang ( Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 05/4/2018 và những lời khai tiếp theo của nguyên đơn chị Trần Thị V trình bày:

Chị và anh Nông Văn M  kết hôn với nhau vào ngày 09/3/2016. Trước khi kết hôn có được tìm, tự nguyện kết hôn không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã K T, huyện L Ng, tỉnh Bắc Giang theo quy định của pháp luật, có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại thôn N N – K Th – L Ng – Bắc Giang. Trong thời gian vợ chồng chung sống anh M chơi bời, không quan tâm gì đến vợ con, mặc dù chị khuyên bảo nhiều lần nhưng anh M không thay đổi, dẫn đến thường xuyên cãi nhau. đến nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh Sáng được nữa, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nông Văn M.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nông Thị Thanh H, sinh ngày 14/11/2016. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con chung chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con,  không đề nghị Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung, ruộng canh tác: Anh chị không có gì, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 15/6/2018 bị đơn anh Nông Văn M trình bày: Anh kết hôn với chị Trần Thị V ngày 09/3/2016. Trước khi kết hôn anh chị có được tìm hiểu, tự nguyện kết hôn không bị ai ép buộc,  có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã K T, huyện L Ng, tỉnh Bắc Giang theo quy định của pháp luật, có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại thôn N N  – K T  – L Ng – Bắc Giang. Trong thời gian vợ chồng chung sống lúc đầu không có mâu thuẫn gì, nhưng được một thời gian vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, đánh cãi chửi nhau, không bảo ban được nhau làm ăn phát triển kinh tế, anh hay đi chơi về muộn không quan tâm đến vợ con, hiện vợ chồng ly thân với nhau từ tháng 5 năm 2018, đến nay chị V đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn anh không nhất trí vì anh muốn vợ chồng đoàn tụ anh hứa sẽ thay đổi bản thân.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nông Thị Thanh H, sinh ngày 14/11/2016. Ly hôn anh có nguyện vọng nuôi con chung anh không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con,  không đề nghị Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung, ruộng canh tác: Anh chị không có gì, anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Trần Thị V trình bày: Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, vì chị và anh M không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mâu thuẫn giữa chị và anh M đã trầm trọng, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nông Văn M; Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nông Thị Thanh H, sinh ngày 14/11/2016. Ly hôn chị có nguyện vọng nuôi con chung chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con, không đề nghị Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung, ruộng canh tác: Anh chị không có gì, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa anh Nông Văn M vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của anh M có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự: Thẩm phán, thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật. Thực hiện thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự; Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh về quyền và nghĩa vụ của mình theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành nghiêm chỉnh về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điều 51; 53; 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 28; 35; 227; 228; 271; 272 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Xử: Cho chị Trần Thị V được ly hôn với anh Nông Văn M

Về con chung: Giao cho chị Trần Thị V nuôi con chung là Nông Thị Thanh H, sinh ngày 14/11/2016, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết, vì các đương sự không yêu cầu, sau khi ly hôn anh M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh M thực hiện quyền này.

Về  án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc chị Trần Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị V đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0003428 ngày 15/6/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà anh Nông Văn M vắng mặt, nhưng anh đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị V và anh Nông Văn M kết hôn với nhau vào năm 2016. Trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K Ttheo quy định của pháp luật, do vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian anh chị chung sống, chị V xác định anh M không quan tâm đến vợ con, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, anh M cũng xác định đến nay hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, không bảo ban được nhau làm ăn, phát triển kinh tế, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa hai anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên cần cho chị Trần Thị V được ly hôn với anh Nông Văn M.

[3] Về con chung: Anh M, chị V đều xác định: Anh chị có 01 con chung là Nông Thị Thanh H, sinh ngày 14/11/2016, ly hôn anh Minh, chị V đều nguyện vọng nuôi con chung không yêu cầu bên kia cấp dưỡng nuôi con, không đề nghị Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Nông Thị Thanh H chưa đủ 3 tuổi, do vậy cần giao cháu H cho chị V nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật, chị V không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con, không đề nghị Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra xem xét giải quyết

[4] Về tài sản, công nợ chung, ruộng canh tác: Chị Trần Thị V và anh Nông Văn M không có gì, không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Trần Thị V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51; 53; 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 28; 35; 227; 228; 271; 272 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Xử: Cho chị Trần Thị V được ly hôn với anh Nông Văn M

Về con chung: Giao cho chị Trần Thị V nuôi con chung là Nông Thị Thanh H, sinh ngày 14/11/2016, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết, vì các đương sự không yêu cầu, sau khi ly hôn anh M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh M thực hiện quyền này.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc chị Trần Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị V đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0003428 ngày 15/6/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.

Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đương sự vắng mặt  được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Án xử công khai sơ thẩm.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 62/2018/HNGĐ-ST ngày 24/09/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:62/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lục Ngạn - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về