Bản án 62/2018/HS-ST ngày 08/11/2018 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 62/2018/HS-ST NGÀY 08/11/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 08 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2018/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Lại Văn D, sinh năm 1953 tại xã T; nơi cư trú: Xóm Nguyễn Đào, xã T, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Văn Túc, sinh năm 1919 và bà Phạm Thị Tép, sinh năm 1923 (đều đã chết); anh chị em ruột có 5 người, bị cáo là thứ ba; vợ là Lê Thị Hải, sinh năm 1956 (đã chết); có 06 con, con lớn nhất sinh năm 1974, con nhỏ nhất sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/8/2018 đến ngày 09/8/2018 thì được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh L Văn B, sinh năm 1987. Địa chỉ: Xóm X, xã Y, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Giáp L, sinh năm 1988. Địa chỉ: Xóm Xuân Đài Tây, xã HảiHòa, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (vắng mặt).

- Anh Phạm Văn S, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ dân phố Đạo Đường, thị trấn Ninh Cường, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 06/8/2018, L Văn B ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đến cửa hàng tạp hóa của Lại Văn D ở xóm Nguyễn Đào, xã T, huyện Hải Hậu ngồi chơi, uống nước thì Nguyễn Giáp L ở xã Hải Hòa và Phạm Văn S ở thị trấn Ninh Cường, huyện Trực Ninh đến cửa hàng của D hỏi mua số lô, số đề, D đồng ý bán. D bán cho L các số đề: 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 mỗi số 50.000đ; các số đề đầu 1 gồm: 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19 mỗi số 50.000đ và số 11 là 500.000đ; các số lô 01, 10 mỗi số 50 điểm, mỗi điểm 23.000đ, với tổng số tiền là 3.800.000đ. D ghi số lô, số đề L mua vào 1 tập giấy nhớ kích thước (7,5 x 10)cm, sau đó ghi ra một cáp giấy đưa cho L và nhận số tiền 3.800.000đ. D bán cho S các số đề: 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, mỗi số 20.000đ, số 77 là 50.000đ và số 44 là 300.000đ; số lô 44 là 50 điểm, mỗi điểm 23.000đ, với tổng số tiền là 1.700.000đ. D ghi số lô, số đề S mua vào tập giấy nhớ đã ghi cho L trước đó, sau đó ghi ra 1 cáp giấy nhỏ đưa cho S và nhận số tiền 1.700.000đ. Tiếp đó, B cũng hỏi mua số lô, số đề, D đồng ý bán cho B các số đề 53, 68 mỗi số 35.000đ; số lô 91 là 10 điểm, mỗi điểm 23.000đ, với tổng số tiền là 300.000đ. D thỏa thuận với L, S và B mức sát phạt số đề là 1 x 70 lần nếu trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt và 01 điểm lô trúng sẽ được 80.000đ nếu trùng với hai số cuối của tất cả các giải kết quả sổ số miền Bắc mở thưởng vào cuối ngày 06/8/2018.

Khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, khi D đang ghi số lô, số đề B mua vào tập giấy nhớ của mình và nhận số tiền 300.000đ từ B thì bị tổ công tác của Công an huyện Hải Hậu phối hợp với công an xã T phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của D 01 tập giấy nhớ có ghi các số lô, số đề và số tiền 5.800.000đ, D khai nhận là tiền bán số lô, số đề cho L, S, B mà có; thu giữ trên tay L và S mỗi người 01 cáp giấy ghi số lô, số đề vừa nhận từ D.

Quá trình điều tra, Lại Văn D thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 61/CT-VKS-HH ngày 17-10-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo Lại Văn D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như nội dung vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyên Hai Hâu thực hành quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng như bản cáo trạng số 61/CT-VKS-HH ngày 17-10-2018 và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lại Văn D từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi kể từ ngày tuyên án; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng của vụ án đã thu giữ trong quá trình điều tra theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Phần tranh luận tại phiên tòa: Kiểm sát viên và bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo công nhận Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và thực sự ăn năn hối lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất, xin được cải tạo tại địa phương, bị cáo đã già yếu có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Hải Hậu lập ngày 06-8-2018, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 15 phút ngày 06-8-2018, Lại Văn D đang bán số lô, số đề cho Nguyễn Giáp L, Phạm Văn S và L Văn B với số tiền 5.800.000đ tại cửa hàng tạp hóa của gia đình ở xóm Nguyễn Đào, xã T, huyện Hải Hậu thì bị tổ công tác của Công an huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định phối hợp với Công an xã T phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.

 [3] Xét hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Từ việc được, thua bạc có thể gây ra nhiều tệ nạn xã hội khác. Do đó, để góp phần đấu tranh, loại bỏ tệ nạn cờ bạc, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

 [4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố là người có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, được Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định tặng bằng khen; bị cáo là người đạt được nhiều thành tích trong phong trào thi đua yêu nước được bầu là lao động tiên tiến năm 1976 nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương cũng đảm bảo mục đích của hình phạt, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp.

 [5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người không có nghề nghiệp, đã già yếu, thu nhập không ổn định, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

 [6] Về xử lý vật chứng của vụ án: Xét số tiền 5.800.000đ bị cáo bán số lô, số đề cho Nguyễn Giáp L, Phạm Văn S và L Văn B mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; 02 tờ cáp giấy màu hồng ghi số lô, số đề có chữ ký của Lại Văn D và 01 tập giấy nhớ màu hồng, vàng, bên trong có ghi các số lô, số đề của Nguyễn Giáp L, Phạm Văn S và L Văn B không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

 [7] Đối với L Văn B đã có tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục đánh bạc dưới 5.000.000đ. Do đó, hành vi của B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, B đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã, tách vụ án và tạm đình chỉ điều tra đối với B, khi nào bắt được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

 [8] Nguyễn Giáp L mua số lô, số đề của D với tổng số tiền 3.800.000đ; Phạm Văn S mua số lô, số đề của D với tổng số tiền là 1.700.000đ, giữa L và S không có sự bàn bạc, thỏa thuận từ trước nên hành vi nêu trên của L và S không đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Công an huyện Hải Hậu đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với L và S là phù hợp.

 [9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Lại Văn D phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lại Văn D 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 06-8-2018 đến ngày 09-8-2018).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.800.000đ (năm triệu tám trăm nghìn đồng);

- Tịch thu tiêu hủy 02 cáp giấy màu hồng ghi số lô, số đề có chữ ký của Lại Văn D và 01 tập giấy nhớ màu hồng, vàng, bên trong có ghi các số lô, số đề của Nguyễn Giáp L, Phạm Văn S và L Văn B.

 (Các vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu ngày 17/10/2018 và Biên lai thu tiền số AA/2012/07575 ngày 17/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).

3. Án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Lại Văn D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án.

Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


41
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về