Bản án 62/2018/HS-ST ngày 08/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 62/2018/HS-ST NGÀY 08/11/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2018, đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc T - sinh năm: 1986; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã Y, huyện D, tỉnh Hà Nam; nơi ở: Thôn Đ, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Quốc T (đã chết) và bà Hà Thị Tú A (đã chết); có vợ: Trần Thị G và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2018, đến ngày 29/5/2018 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

* Bị hại:

Ông Trần Văn T - sinh năm 1968; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn M, xã T N, huyện T, tỉnh Hà Nam vắng mặt có lý do.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Trần Văn D - sinh năm 1970; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã A huyện B, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn T - sinh năm 1969; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn M, xã T N, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt có lý do.

+ Ông Phạm Xuân H - sinh năm 1975; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn M, xã T N, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 20/5/2018, Nguyễn Quốc T nhận được điện thoại từ số thuê bao 01656825907 của một người nam giới tên C (T quen biết với C từ trước nhưng không rõ nhân thân, lai lịch của C), C hẹn với T gặp nhau ở cầu vượt Liêm Tuyền, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. T đồng ý rồi một mình điều khiển xe mô tô BKS: 90B1-….. đi từ nhà đến cầu vượt Liêm Tuyền. Tại đây, C bàn với T đi trộm cắp tài sản là hai chiếc đồng hồ côn tại nhà anh Trần Văn T, T đồng ý. Sau đó, mỗi người điều khiển xe mô tô của mình đi đến thôn M, xã T N, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Trên đường đi, C đưa cho T hai bao tải kiểu túi bạt có khóa kéo rồi đi trước, T cầm hai bao tải mà C đưa treo ở móc để đồ bên phải của xe mô tô rồi đi theo sau C. Khi đến cách nhà anh T khoảng 200m, C chỉ cho T biết và bảo T đứng chờ ở ngoài, C sẽ vào rủ anh T đi ra ngoài để T vào nhà anh T trộm cắp tài sản. Sau khi C vào nhà anh T được một lúc, T quan sát thấy C đi ra, phía sau chở một người nam giới đi đâu không rõ. T liền đi đến để xe trước cửa nhà anh T dùng hai tay mở cửa xếp, dắt xe mô tô vào trong nhà anh T dựng chân chống giữa lên. Lúc này, T quan sát bên trong nhà anh T, thấy trên sát tường cửa ra vào có treo một chiếc đồng hồ kiểu đồng hồ côn, hộp gỗ, mặt đồng hồ in logo ODO, loại số vẽ và tường bên phải cửa ra vào có treo một chiếc đồng hồ kiểu đồng hồ côn, hộp gỗ, mặt đồng hồ in logo ODO Made in France, loại số nổi. T lấy hai chiếc đồng hồ này mang ra chỗ dựng xe mô tô của mình, sau đó cho mỗi chiếc đồng hồ vào trong một bao tải bạt, một chiếc T để ở giá chở hàng giữa xe mô tô, còn một chiếc T dùng dây chun buộc ở phía sau yên xe. Khi T đang chằng buộc đồng hồ thì bị lực lượng Phòng cảnh sát hình sự - Công an tỉnh Hà Nam tuần tra phát hiện, bắt quả tang.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 đồng hồ kiểu đồng hồ côn, hộp gỗ kích thước (55x43x17) cm, mặt đồng hồ có in logo ODO, loại số vẽ, 8 côn, sản xuất năm 1954;

- 01 đồng hồ kiểu đồng hồ côn, hộp gỗ kích thước (63x55x17,5) cm, mặt đồng hồ có in logo ODO made in France, loại số nổi, 10 côn, sản xuất năm 1962;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha, màu trắng, đã cũ BKS: 90B1-…..;

- 01 dây chun màu xanh, vàng;

- 01 túi đựng áo mưa màu xanh đen, bên trong có 01 bộ áo mưa; 01 đôi găng tay bằng len màu đen;

- 01 khẩu trang bằng vải màu nâu, đã cũ;

- 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu, màu xanh;

- 02) bao tải kiểu túi bạt, có hai quai xách, miện túi có khóa kéo, kích thước (80x80x20)cm;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen kiểu RM1190 đã cũ, trong có lắp 01 (một) sim điện thoại có số thuê bao 0915427….

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 071… mang tên Trần Văn D, được Phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh Hà Nam cấp ngày 18/9/2014, do ông Trần Văn D tự nguyện giao nộp.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 09 ngày 11/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Hà Nam kết luận: một chiếc đồng hồ kiểu đồng hồ côn, hộp gỗ kích thước (55x43x17) cm, mặt đồng hồ có in logo ODO, loại số vẽ, 8 côn, sản xuất năm 1954 có giá 15.000.000 đồng; một chiếc đồng hồ kiểu đồng hồ côn, hộp gỗ kích thước (63x55x17,5) cm, mặt đồng hồ có in logo ODO made in France, loại số nổi, 10 côn, sản xuất năm 1962 có giá 15.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

Bản cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 11/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã truy tố Nguyễn Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự - Xử phạt Nguyễn Quốc T từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng:

+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen kiểu RM1190 đã cũ, trong có lắp sim điện thoại có số thuê bao 0915427094, + Tịch thu tiêu hủy 01 dây chun màu xanh, vàng; 02 bao tải kiểu túi bạt, có hai quai xách, miệng túi có khóa kéo.

+ Trả lại cho bị cáo T 01 túi đựng áo mưa màu xanh đen, bên trong có 01 bộ áo mưa; 01 đôi găng tay bằng len màu đen; 01 khẩu trang bằng vải màu nâu, đã cũ; 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu xanh.

Bị cáo T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt.

Ông D có ý kiến ông là bố vợ của bị cáo sáng ngày 20/05/2018 bị cáo có mượn ông chiếc xe máy BKS 90B1 – ..... đi mua hàng tạp hóa. Ông không biết bị cáo mượn xe của ông làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho ông chiếc xe trên nay ông không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 20/5/2018, Nguyễn Quốc T đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà anh Trần Văn T ở thôn M xã T N huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam trộm cắp hai chiếc đồng hồ hộp gỗ, kiểu đồng hồ côn nhãn hiệu ODO có tổng giá trị là 30.000.000 đồng. Trong khi T đang chằng buộc đồng hồ thì bị lực lượng phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Hà Nam tuần tra phát hiện bắt quả tang.

[3] Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị trên hai triệu đồng và dưới năm mươi triệu đồng. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử kết luận: Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm truy tố Nguyễn Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Xét về thân nhân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Về thân nhân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51. Bị cáo có bố đẻ (ông T) là người có công với nước được Nhà nước tặng thưởng huy chương chiến sỹ vẻ vang và bằng khen nên xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; vì vậy, thấy không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo, chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân lương thiện điều này thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn hối cải.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là người lao động tự do, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên miễn phạt tiền đối với các bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn T, ông Trần Văn D không có yêu cầu gì về dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã trả lại hai chiếc đồng hồ hộp gỗ, kiểu đồng hồ côn cho anh Trần Văn T - chủ sở hữu hợp pháp và trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha, màu trắng, đã cũ BKS: 90B1-….. cùng giấy đăng ký xe mô tô số 0711… cho ông Trần Văn D - chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật.

- Đối với 01 túi đựng áo mưa màu xanh đen, bên trong có bộ áo mưa; 01 đôi găng tay bằng len màu đen; 01 khẩu trang bằng vải màu nâu, đã cũ; 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu xanh, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Nguyễn Quốc T, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen kiểu RM1190 đã cũ, trong có lắp 01 sim điện thoại có số thuê bao 0915427…, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Nguyễn Quốc T. T đã sử dụng chiếc điện thoại và số thuê bao này để liên lạc với C để đi trộm cắp tài sản nên sẽ tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 dây chun màu xanh, vàng; 02 bao tải kiểu túi bạt, có 02 quai xách, miệng túi có khóa kéo, quá trình điều tra xác định đây là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Đối với người nam giới tên C: quá trình điều tra đến nay chỉ có lời khai của bị cáo T xác định Thiêm có quen biết với một người nam giới tên C nhưng không rõ nhân thân, lai lịch của người này và lời khai của anh Trần Văn T cũng xác định không quen biết người nào tên là C. Hôm xảy ra sự việc ngày 20/5/2018 ông T đi ra khỏi nhà một mình và không đi cùng với ai, bản thân ông T cũng không quen biết với ai có số điện thoại 0165682….

Đối với số thuê bao 01656825… mà T khai do người có tên C dùng để liên lạc với T rủ đi trộm cắp tài sản ngày 20/5/2018, cơ quan điều tra đã xác định chủ số thuê bao trên là chị Nguyễn Thị Thanh M - sinh ngày 27/4/1999, trú tại xóm N, xã Đ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Xác minh tại xã Đ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, đại diện chính quyền địa phương và gia đình chị Nguyễn Thi Thanh M xác định: hiện tại chị M đi du học tại Hàn Quốc từ tháng 8/2018 và chị M chưa bao giờ sử dụng số thuê bao 0165682….. Ngoài lời khai của T, không còn tài liệu nào khác liên quan để điều tra, xác minh làm rõ đối tượng tên C nên chưa có đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này. Hội đồng xét xử yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Thanh Liêm tiếp tục điều tra nếu có căn cứ thì xử lý ở vụ án khác [7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 09 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/11/2018).

Giao bị cáo Nguyễn Quốc T cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách của án treo, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

3. Xử lý vật chứng:

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc T 01 túi đựng áo mưa màu xanh đen, bên trong có 01 bộ áo mưa; 01 đôi găng tay bằng len màu đen; 01 khẩu trang bằng vải màu nâu, đã cũ; 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu xanh.

+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen kiểu RM1190 đã cũ, trong có lắp sim điện thoại có số thuê bao 0915427…, + Tịch thu tiêu hủy 01 dây chun màu xanh, vàng; 02 bao tải kiểu túi bạt, có hai quai xách, miệng túi có khóa kéo.

(Tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/10/2018 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Liêm với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Liêm).

4. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 62/2018/HS-ST ngày 08/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:62/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Liêm - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 08/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về