Bản án 62/2018/HS-ST ngày 23/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 62/2018/HS-STNGÀY 23/11/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

 Ngày 23 tháng 11 năm 2018, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1995, tại Bình Phước; HKTT và nơi cư trú: Tổ 03, ấp T, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước. Nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn) 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam.; con ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; tiền án: không, tiền sự: không. Anh em ruột có 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2003. Thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 24/6/2018, ngày 18/9/2018 bị khởi tố, ngày 29/9/2018 bị bắt tạm giam cho đến nay.

2/ Dương Thanh H, sinh năm 1996; Tên gọi khác: Tý HKTT và nơi cư trú: Tổ 06, ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn) 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam.; con ông Dương Thanh L (đã chết) và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1973; tiền án: không, tiền sự: 01 Quyết định xử phạt hành chính số 05/QĐ-XPVPHC ngày 15/9/2017 của Công an xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước hình thức xử phạt chính bằng tiền 1.500.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản đối với Dương Thanh H, đến nay Dương Thanh H chưa thực hiện xong quyết định xử phạt hành chính. Anh chị em ruột có 03 người, lớn nhất là sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2001.Thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 24/6/2018, ngày 18/9/2018 bị khởi tố, ngày 20/9/2018 bị bắt tạm giam cho đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Lê Văn H, sinh năm 1987 (Vắng mặt, có đơn)

HKTT: Tổ 1, ấp 3, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Sú A N, sinh năm 1968 (Vắng mặt, có đơn)

HKTT: Tổ 3, ấp T, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước.

2/ Nguyễn Thị H, sinh năm 1976 (Vắng mặt, có đơn)

HKTT: Tổ 03, ấp T, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 24/6/2018, Nguyễn Ngọc S điều khiển xe mô tô hiệu Honda Blade biển số: 93C1-088.16 của mẹ ruột tên Nguyễn Thị H chở bạn gái tên Phạm Thị Hđến nhà bạn Dương Thanh H chơi. Tại đây Nguyễn Ngọc S rủ Dương Thanh H đi chiếm đoạt chiếc xe môtô kiểu dáng Dream để ở khu vực nhà trọ biển hiệu Tấn P thuộc tổ 4, khu phố P, phường A, thị xã Bvà không cho Phạm Thị H biết. Nguyễn Ngọc S điều khiển xe Blade chở Dương Thanh H đến nhà trọ. Dương Thanh H đi vào sân thấy 01 xe môtô hiệu LONCIN biển số: 66P1-673.59 của anh Lê Văn H không có người trông coi. Dương Thanh H đẩy ra, không làm nổ máy xe được, nên dắt xe đi bộ khoảng 30m thì nhặt được 01 đoạn dây kẽm rồi buộc vào xe để Nguyễn Ngọc S kéo về nhà Dương Thanh H cất giấu. Khi gần đến nhà, Dương Thanh H vứt bỏ dây kẽm vào bên đường không xác định rõ vị trí, Nguyễn Ngọc S dùng chân đẩy xe cho Dương Thanh H. Dương Thanh H đi đến nhà ông Sú A N buôn bán phế liệu, cách nhà khoảng 1km, nói có xe mô tô cũ cần bán. Ông Sú A N đến xem, Nguyễn Ngọc S nói xe của bạn gái không chạy được nên bán. Ông Sú A N biết Nguyễn Ngọc S là người cùng xóm nên tin tưởng, đồng ý mua với giá 1.000.000đ (Một triệu đồng) và nói đem xe đến nhà mình. Lúc này Phạm Thị H trong nhà của Dương Thanh H nên không biết việc mua bán xe. Nguyễn Ngọc S cùng Dương Thanh H đẩy xe môtô hiệu LONCIN biển số: 66P1-673.59 đến nhà ông Sú A N. Nguyễn Ngọc S nhận tiền sau đó rủ Phạm Thị H, Dương Thanh H đi hát karaoke hết 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), số tiền còn lại Nguyễn Ngọc S tiêu xài cá nhân hết.

Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 24/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Bđịnh giá xe hiệu LONCIN, biển số: 66P1-673.59, trị giá 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).

Cáo trạng số: 50/CT-VKSBL ngày 12/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Btruy tố Nguyễn Ngọc S và Dương Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng, căn cứ tính chất mức độ phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc S: từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.

Căn cứ Điều 54 Bộ luật hình sự 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Dương Thanh H: dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ 04 đến 06 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bình Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

 [2] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện tội phạm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã thu thập được. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Ngày 24/6/2018, Nguyễn Ngọc S và Dương Thanh H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một xe mô tô nhãn hiệu LONCIN màu nâu, biển số: 66P1-673.59 của anh Lê Văn H để ở nhà trọ Tấn P thuộc tổ 4, khu phố P, phường A, thị xã Bình Long.

 [3] Tại kết luận định giá tài sản số: 46/KL-HĐĐGTS ngày 24/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Bình Long xác định giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt là: 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

 [4] Hành vi phạm tội của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn do hai bị cáo Nguyễn Ngọc S và Dương Thanh H cùng thực hiện với lỗi cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo Nguyễn Ngọc S rủ bị cáo Dương Thanh H đi thực hiện hành vi trộm cắp, đồng thời là người giúp sức cho bị cáo Dương Thanh H khi dắt xe của bị hại Lê Văn H ra khỏi nhà trọ, đã dùng dây kéo xe về nhà Dương Thanh H cất giấu, số tiền bán tài sản do trộm cắp mà có chủ yếu do Nguyễn Ngọc S quản lý, tiêu xài cá nhân. Bị cáo Dương Thanh H giữ vai trò là người thực hành, là người trực tiếp thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh Lê Văn H. Xét về nhân thân: Bị cáo Dương Thanh H là người có 01 tiền sự, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản chưa chấp hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), cho thấy thái độ không chấp hành pháp luật của bị cáo. Do có tiền sự, xử phạt tù là đúng quy định của pháp luật. Bị cáo Dương Thanh H đang bị bệnh tiểu đường, hành vi phạm tội đơn giản, tài sản chiếm đoạt không lớn, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Căn cứ Điều 54 Bộ luật hình sự, xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự là đủ răn đe, giáo dục.

 [5] Hai bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại; phạm tội gây thiệt hại không lớn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Ngọc S đã tự nguyện bồi thường cho người có quyền lợi, liên quan số tiền mua xe, nên được hưởng tình thiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

 [6] Đối với vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 chiếc xe Honda Blade biển số: 93C1-088.16 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị H, việc Nguyễn Ngọc S tự ý sử dụng xe đi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bà Nguyễn Thị H không biết, Cơ quan điều tra đã trả xe cho bà Nguyễn Thị H là đúng quy định, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu LONCIN màu nâu, biển số: 66P1- 673.59 là tài sản hợp pháp của bị hại Lê Văn H, Cơ quan điều tra đã trả xe cho bị hại Lê Văn H là đúng quy định, Hội đồng xét xử không xem xét.

 [7] Về trách nhiệm dân sự:

- Ông Sú A N yêu cầu nhận lại tiền mua xe 1.000.000đ (Một triệu đồng), bị cáo Nguyễn Ngọc S và gia đình đã tự nguyện bồi thường 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho ông Sú A N, ông Sú A N không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Bị hại anh Lê Văn H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [8] Những vấn đề liên quan:

Ông Sú A N khi mua xe của Nguyễn Ngọc S không biết đây là tài sản do hành vi phạm tội mà có, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Kiểm sát viên đề nghị hình phạt các bị cáo Nguyễn Ngọc S và Dương Thanh H là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc S và Dương Thanh H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 65; Điều 50; Điều 58; điểm b, i, s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đồi bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S: 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án.

Tuyên trả tự do cho bị cáo Nguyễn Ngọc S, nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc S cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Ngọc S cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 58; điểm i, s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đồi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Dương Thanh H: 04 tháng tù, tính từ ngày 20/9/2018.

Án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng  12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sửdụng án phí và lệ phí Tòa án; Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 62/2018/HS-ST ngày 23/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:62/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Bình Long - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về