Bản án 62/2019/DS-PT ngày 18/03/2019 về tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại sức khỏe

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 62/2019/DS-PT NGÀY 18/03/2019 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI SỨC KHỎE

Ngày 18 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 44/2019/TLPT-DS ngày 21 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 200/2018/DS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 63/2019/QĐ-PT ngày 18 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1974(có mặt) Địa chỉ: Ấp N,xã P, huyện C, tỉnh C, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Thị H: Bà Huỳnh Công D – Luật sư, cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau (có mặt) - Bị đơn: Ông Tăng Bửu N1 (Quốc), sinh năm 1974 (có mặt) Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện C, tỉnh C, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Tăng Bửu N1 là Luật sự Nguyễn Văn N2 – Văn phòng Luật sư Ánh Sáng, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt) - Người làm chứng:

1/ Ông Tăng Thành C1, sinh năm 1977 (vắng mặt)

2/ Bà Dương Thị C2, sinh năm 1979 (vắng mặt) Cùng địa chỉ: ấp G, xã Đ, huyện C,tỉnh C.

- Người kháng cáo: Bà Trần Thị H là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày: Ngày 19/7/2017 gia đình ông Tăng Bửu N1 có mất măng tre nên ông N1 hỏi bà biết ai lấy măng tre hay không thì bà trả lời là không biết. Nghe bà trả lời như vậy thì ông N1 chạy qua nhà bà dùng tay đánh vào đầu của bà một cái làm bà ngất xỉu. Qua sự việc bà có mời chính quyền địa phương và Công an xã Phú Hưng đến lập biên bản. Sau đó bà đến Trạm y tế xã Phú Hưng điều trị 02 ngày nhưng không khỏe, đến ngày 21/7/2017, bà đến Bệnh viện Đa khoa Cái Nước khám thì bệnh viện giới thiệu cho bà đến Bệnh viện Hoàn Mỹ Minh Hải để chụp CT đầu. Sau khi chụp CT đầu bà nhập viện điều trị tại Bệnh viện Hoàn Mỹ 02 ngày từ ngày 22/7/2017 đến ngày 24/7/2017 thì xuất viện. Sau khi xuất viện về tình trạng sức khỏe của bà chưa khỏe hoàn toàn nên bà tiếp tục điều trị ngoại trú tại Trạm y tế xã Phú Hưng đến ngày 22/8/2017 thì nghỉ điều trị. Từ thời gian đó đến khi khởi kiện tại Tòa án, bà vẫn thường xuyên lấy thuốc bảo hiểm để uống.

Vụ việc ông N1 đánh bà thì Công an xã Phú Hưng có mời hòa giải, tại lần hòa giải thứ nhất Công an xã Phú Hưng buộc ông N1 bồi thường cho bà số tiền 555.000 đồng, lần thứ hai buộc ông N1 bồi thường cho bà số tiền 760.000 đồng nhưng bà không đồng ý.

Bà yêu cầu ông N1 bồi thường cho bà tổng số tiền là 18.222.000 đồng. Trong đó bao gồm: Tiền thuốc, tiền viện phí 2.222.000 đồng; tiền mất thu nhập 3.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 13.000.000 đồng.

- Bị đơn ông Tăng Bửu N1 trình bày: Khoảng 08 giờ ngày 19/7/2017, ông phát hiện mất 08 măng tre nên hỏi bà H có thấy ai lấy măng tre của ông không thì bà H trả lời không biết, nghe trả lời như vậy nên ông quay về nhà. Lúc sau ông thấy có ông Tăng Thành C1 là em bà con chú bác với ông đang uống nước tại nhà bà H thì ông mới đến kể cho ông C1 nghe chuyện mất măng tre, bà H nghe và nói “Đồ nhà tao, tao giữ không được có đâu tao giữ măng tre cho mầy”. Sau khi nghe bà H nói vậy hai bên mới cãi nhau, ông tiến đến gần bà H và dùng một tay chỉ vào mặt bà H nhưng không trúng, tay còn lại ông đang ôm một con chó thì ông C1 đến can ngăn và kêu ông về nhà, một lát sau có Công an xã Phú Hưng đến lập biên bản.

Sau đó, Công an xã Phú Hưng có mời hòa giải 02 lần nhưng ông không đồng ý bồi thường cho bà H. Tuy nhiên, trước đây ông có thiện chí muốn hỗ trợ khoản tiền mà bà H bỏ ra khám bệnh là 760.000 đồng. Nay ông không đồng ý bồi thường hay hỗ trợ cho bà H.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 200/2018/DS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khời kiện của bà Trần Thị H đối với ông Tăng Bửu N1 (Quốc) về việc buộc ông Tăng Bửu N1 (Quốc) bồi thường thiệt hại về sức khỏe, thiệt hại mất thu nhập và thiệt hại về tinh thần với tống số tiền là 18.222.000 đồng (Mười tám triệu hai trăm hai mươi hai nghìn đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự. Ngày 11/12/2018, bà Trần Thị H có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử sửa án sơ thẩm theo hướng buộc ông N1 bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe cho bà H tổng số tiền là 18.222.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H. Lý do: Khi ông N1 đánh bà H có bà Dương Thị C2 chứng kiến xác nhận, do ông N1 đánh bà H nên ông N1 phải có trách nhiệm bồi thường về chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, tiền mất thu nhập cho bà H với tổng số tiền là 18.222.000 đồng.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông N1 yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Lý do ông N1 không đánh bà H, ông N1 không có lỗi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Xét kháng cáo của bà Trần Thị H về việc yêu cầu ông N1 bồi thường tiền chi phí điều trị 2.222.000 đồng, tiền mất thu nhập 3.000.000 đồng, tiền tổn thất tin thần 13.000.000 đồng do bà H bị ông N1 đánh vào đầu nên phải điều trị tại Trạm y tế xã Phú Hưng, Bệnh viện đa khoa huyện Cái Nước, Bệnh viện tư nhân Hoàn Mỹ. Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc ông N1 và bà H có cãi nhau vào ngày 19/7/2019 trong việc ông N1 bị mất măng tre là thực tế có xảy ra. Bà H cho rằng trong lúc cự cải ông N1 dùng tay đánh vào đầu của bà H dẫn đến phải đi khám chữa bệnh. Ngược lại ông N1 không thừa nhận có đánh bà H nên không đồng ý bồi thường.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đều thống nhất nhau khi sự việc xảy ra có sự chứng kiến của ông Tăng Thành C1 và bà Dương Thị C2; ông C1 và bà C2 là vợ chồng, có mối quan hệ thân tộc với cả nguyên đơn và bị đơn; từ trước đến khi xảy ra sự việc ông C1, bà C2 không có mâu thuẩn gì với cả nguyên đơn và bị đơn. Như vậy để có căn cứ giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại giữa nguyên đơn với bị đơn, cần xác minh làm rõ bị đơn có lỗi (có đánh) nguyên đơn hay không, do đó cấp sơ thẩm đã tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án như biên bản sự việc ngày 19/7/2017, biên bản làm việc của Tòa án đối với ông C1, bà C2.

[3] Thấy rằng, Tại biên bản lập lúc 10 giờ 05 phút ngày 19/7/2017 của Công an ấp Nhà Phấn Gốc, xã Phú Hưng chỉ ghi nhận lại lời trình bày của bà H là bị ông N1 đánh, không thể hiện bà H có bị thương tích gì, mặc khác biên bản cũng không thể hiện lời trình bày của ông N1 là có hay không việc đánh bà H. Như vậy biên bản này được xác định là biên bản trình báo của bà H, không phải biên bản ghi nhận có sự việc đánh nhau xảy ra giữa bà H với ông N1. Tại biên bản làm việc ngày 12/10/2018 của Tòa án đối với ông C1, ông C1 xác định ông N1 có xong tới đánh bà H nhưng được ông C1 ngăn cản, còn việc ông N1 có đánh trúng bà H hay không thì ông C1 không thấy. Tại biên bản ghi lời khai ngày 25/7/2017 bà C2 xác định ông N1 có đánh trúng đầu bà H, biên bản ghi lời khai ngày 21/12/2017 bà C2 xác định ông N1 có đánh bà H nhưng trúng nhẹ vào đầu và không thấy bà H có thương tích gì sau đó bà H ra sân la lên bị ông N1 đánh, tại biên bản làm việc ngày 12/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước bà C2 xác định ông N1 có đánh bà H nhưng chỉ trúng nhẹ vào đầu.

[4] Theo bà H trình bày sau khi sự việc xảy ra, bà H có điều trị tại Trạm y tế xã Phú Hưng, Bệnh viện đa khoa khu vực Cái Nước, nhập viện điều trị tại Bệnh viện tư nhân Hoàn Mỹ hai ngày thì xuất viện. Tuy nhiên theo Giấy chứng nhận thương tích ngày 24/7/2017 của Bệnh viện Hoàn Mỹ Minh Hải xác định tình trạng thương tích của bà H lúc vào và ra viện: không thấy vết thương, không thấy bầm, MSCT sọ chưa ghi nhận bất thường.

[5] Quá trình giải quyết vụ án, ông N1 không thừa nhận có đánh bà H, trong khi lời khai của bà C2 là người trực tiếp chứng kiến sự việc lại không thống nhất, chính quyền địa phương cũng không lập biên bản ghi nhận có xảy ra sự việc đánh nhau giữa bà H với ông N1 vào ngày 19/7/2017. Từ những căn cứ trên chưa đủ cơ sở để kết luận ông N1 có đánh bà H như bà H trình bày, cũng như quan điểm bảo vệ của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H tranh luận tại phiên tòa. Do đó cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về việc buộc ông N1 phải bồi thường cho bà H chi phí điều trị 2.222.000 đồng; tiền mất thu nhập 3.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 13.000.000 đồng là có cơ sở.

[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H và Luật sư bảo vệ cho bà H không đưa ra được căn cứ mới để chứng minh ông N1 đã thực hiện hành vi có lỗi gây ra thiệt hại cho bà H, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà H, giữ nguyên bản án sơ thẩm theo đề nghị của Luật sư bảo vệ cho ông N1, cũng như theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[7] Án phí dân sự phúc thẩm bà H không phải chịu, được miễn án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị H Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 200/2018/DS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước Không chấp nhận yêu cầu khời kiện của bà Trần Thị H đối với ông Tăng Bửu N1 (Quốc) về việc buộc ông Tăng Bửu N1 (Quốc) bồi thường thiệt hại về sức khỏe, thiệt hại mất thu nhập và thiệt hại về tinh thần với tống số tiền là 18.222.000 đồng (Mười tám triệu hai trăm hai mươi hai nghìn đồng).

Án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm bà Trần Thị H không phải chịu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 62/2019/DS-PT ngày 18/03/2019 về tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại sức khỏe

Số hiệu:62/2019/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 18/03/2019
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về