Bản án 62/2019/HS-ST ngày 16/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 62/2019/HS-ST NGÀY 16/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 16 tháng 4 năm 2019, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Từ Chí T, sinh năm 1987, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số 47, đường P, phường A1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nhà đã bán, đi khỏi địa phương và đi đâu không rõ); nơi ở: Phòng số 002-Phòng cho thuê K, số 80, Đường S8, phường T2, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Từ Văn D và bà Âu Đức M; có vợ và 01 con sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 09/12/2007, bị Công an phường Hiệp Tân, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính 430.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và ngày 13/7/2015, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh “Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” với thời hạn 21 tháng (đã nộp phạt 430.000 đồng và chấp hành xong quyết định này ngày 06/01/2017, được xóa); bị bắt tạm giữ ngày 16-12-2018 (tính tại thời điểm bị bắt quả lúc 18 giờ 30 phút ngày 16-12-2018), tạm giam ngày 23-12-2018 “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 16/12/2018, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy-Công an quận Bình Tân kết hợp với Công an phường Bình Trị Đông B tiến hành kiểm tra hành chính Phòng số 002- Phòng cho thuê K, số 80, Đường S8, phường T2, quận B do Từ Chí T thuê lưu trú thì phát hiện và thu giữ trong túi quần bên trái của T 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và trong cái hộp bằng kim loại màu đỏ để trên bàn 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Khi đó, T cho biết là ma túy loại “hàng đá” nên đưa T cùng vật chứng về Công an phường xử lý người có hành vi phạm tội quả tang rồi sau đó chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Tại đây, T khai do nghiện ma túy nên mới vừa đến khu vực Cây Da Sà, đường Tỉnh Lộ 10 mua 02 gói ma túy này của tên Nguyên (không rõ lai lịch) với giá 1.000.000 đồng về cất để dành sử dụng thì bị kiểm tra bắt giữ.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Từ Chí T khai nhận, do nghiện ma túy nên đã đến khu vực Cây Da Sà, đường Tỉnh Lộ 10 mua 02 gói ma túy loại “hàng đá” của tên Nguyên (không rõ lai lịch) với giá 1.000.000 đồng về cất để dành sử dụng dần thì bị Công an kiểm tra bắt giữ nên nay bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời, bị cáo không có ý kiến gì về hàm lượng ma túy đã giám định và việc giải quyết vật chứng.

Bản cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 13 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Từ Chí T ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Từ Chí T đã có hành vi cất giữ số ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4848g, loại Methamphetamine để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, đồng thời có nhân thân xấu nên cần phải xử lý bị cáo bằng một mức án thật nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 02 năm đến 03 năm tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung; còn về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy gói niêm phong chứa ma túy đã giám định và 01 cái hộp bằng kim loại màu đỏ; giao trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động hiệu Nokia có số sim 0938866638.

Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra – Công an quận Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 16/12/2018, tại Phòng số 002 của Phòng cho thuê K, số 80, Đường S8, phường T2, quận B. Bị cáo Từ Chí T đã có hành vi cất giữ 02 gói nylon chứa tinh thể không màu nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Theo Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hồ Chí Minh thì, “Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Từ Chí T, Nguyễn Ngọc Tuấn (Điều tra viên), Lê Hoàng Tiến (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường Bình Đông B, quận Bình Tân” gửi đến giám định “là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4848g, loại Methamphetamine”. Do đó, bị cáo Từ Chí T đã phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Từ Chí T tại Tòa hôm nay phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, biên bản niêm phong, mở niêm phong, kết luận giám định hàm lượng ma túy… nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Đối với người bán ma túy cho bị cáo tên Nguyên, do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra còn đang tiếp tục truy xét đến khi nào phát hiện được sẽ xử lý sau là phù hợp.

[3] Xét chất ma túy là loại chất kích thích do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và mua bán. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai và vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, mang tính chất liều lĩnh, xem thường pháp luật, góp phần làm lan tràn nạn nghiện ngập trong đời sống cộng đồng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, có thể là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác và đồng thời có nhân thân xấu. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này với mức án tương xứng. Tuy nhiên tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp và không có điều kiện kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: Đối với 01 gói niêm phong, bên trong chứa ma túy đã giám định, bên ngoài có chữ ký ghi tên Từ Chí T, hình dấu Công an phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, chữ ký Điều tra viên Nguyễn Ngọc Tuấn, giám định viên và cán bộ điều tra là chất kích thích, Nhà nước cấm sử dụng; 01 cái hộp bằng kim loại màu đỏ dùng đựng ma túy nên cần tịch thu tất cả để tiêu hủy. Riêng 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia, số sim 0938866638 của bị cáo, không liên quan gì đến vụ án nên cần giao trả lại cho bị cáo.

[6] Bị cáo Từ Chí T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Từ Chí T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về điều luật áp dụng và phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt bị cáo Từ Chí T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16-12-2018.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 gói niêm phong, bên trong chứa ma túy đã giám định, bên ngoài có chữ ký ghi tên Từ Chí T, hình dấu Công an phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, chữ ký Điều tra viên Nguyễn Ngọc Tuấn, giám định viên và cán bộ điều tra; 01 cái hộp bằng kim loại màu đỏ. Giao trả lại cho bị cáo Từ Chí T 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia, số sim 0938866638.

(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số NK19/106TAM ngày 11/3/2019)

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Từ Chí T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Từ Chí T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 62/2019/HS-ST ngày 16/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:62/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Bình Tân - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về