Bản án 63/2017/HC-PT ngày 15/03/2017 về thu hồi đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 63/2017/HC-PT NGÀY 15/03/2017 VỀ THU HỒI ĐẤT

Ngày 15 tháng 3 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 96/2016/TLPT-HC ngày 14 tháng 11 năm 2016, do có kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 57/2015/HCST ngày 25/12/2016 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 349/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2017 giữa:

* Người khởi kiện: Ông Nguyễn Xuân Đương, sinh năm 1936; vắng mặt.

Địa chỉ: Đội 7, thôn Nhì Giáp, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện:

- Ông Nguyễn Đình Trọng, sinh năm 1939; trú tại: Số 83 đường Trần Quang Khải, phường Năng Tĩnh, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; có mặt.

- Chị Hoàng Kim Dung; có mặt (tại phiên tòa chị Dung ủy quyền của ông Trọng).

* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Phạm Đình Mậu - Phó Chủ tịch thường trực UBND huyện Vụ Bản; có mặt.

NHẬN THẤY

Dự án đầu tư xây dựng Khu công nghiệp (KCN) Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định nằm trong danh mục các Khu công nghiệp được ưu tiên thành lập mới đến năm 2015 và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020”.

Để triển khai và thực hiện dự án, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 2189/QĐ-UBND ngày 27/9/2007, nội dung: Giao Công ty cổ phần đầu tư Vinatex thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam là chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN Bảo Minh.

Căn cứ Quyết định số 01/2007/QĐ-UBND ngày 11/01/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định “Về việc phân cấp quản lý tổ chức thực hiện công tác GPMB trên địa bàn tỉnh Nam Định”; ngày 08/01/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 477/QĐ-UBND “Về việc phê duyệt Phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định”.

Ngày 28/3/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 660/QĐ-UBND “Về việc thu hồi giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN Bảo Minh tại huyện Vụ Bản” với tổng diện tích thu hồi 1.653.247,2m2 đất thuộc địa phận 3 xã Liên Minh, Liên Bảo, Kim Thái huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Ngày 07/4/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 1101/QĐ-UBND và Quyết định số 1100/QĐ-UBND về việc “Thu hồi đất của hộ gia đình cá nhân” đối với hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đương với tổng số đất bị thu hồi theo hai quyết định này là 1.931m2 đất thuộc thửa đất số 159 và thửa số 59, tờ bản đồ địa chính số 3 tại xã Liên Minh, huyện Vụ Bản (bản đồ chỉnh lý đồn điền đổi thửa xã Liên Minh năm 2004).

Quá trình xem xét bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án được tiến hành như sau:

Ngày 30/8/2007, UBND huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 1308/QĐ-UBND về việc thành lập Hội đồng đền bù thiệt hại giải phóng mặt bằng Khu công nghiệp Bảo Minh.

Ngày 08/01/2008, UBND huyện Vụ Bản ban hành Quyết định 477/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án tổng thể bồi thường, hỗ trợ GPMB Khu công nghiệp Bảo Minh.

Ngày 20/5/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 2790/QĐ-UBND về việc:“Phê duyệt Phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ, GPMB dự án khu công nghiệp Bảo Minh của hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh”, cụ thể như sau:

- Tổng số hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp: 476 hộ;

- Tổng diện tích đất thu hồi: 525.508m2;

- Tổng kinh phí: 16.816.256.000đ.

(Có danh sách phương án chi tiết các hộ kèm theo).

 Ngày 06/8/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 16/QĐ-UBND về việc điều chỉnh mức hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Căn cứ quyết định trên, ngày 28/11/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 5272/QĐ-UBND về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ bổ sung theo Quyết định số 16/2008/QĐ-UBND của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh”; có nội dung như sau:

- Tổng số hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp: 476 hộ;

- Tổng diện tích thu hồi: 525.508m2;

- Tổng kinh phí phê duyệt bổ sung: 525.508m2 x 3.000 đồng/m2 = 1.576.524.000đ.

(Có danh sách phương án chi tiết các hộ kèm theo).

Mức bồi thường, hỗ trợ bổ sung 3.000đ/m2 được áp dụng đối với tất cả các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp không kể tỷ lệ thu hồi đất. Riêng các hộ bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp sẽ có phương án chi tiết riêng theo tiêu chuẩn giao đất làm dịch vụ được phê duyệt.

Ngày 31/12/2010, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 3734/QĐ-UBND về việc “Phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ cho các hộ thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp để GPMB xây dựng Khu công nghiệp Bảo Minh thuộc xã Liên Minh, huyện Vụ Bản”.

Sau khi có Quyết định số 477/QĐ-UBND ngày 08/01/2008 về việc “Phê duyệt Phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định”; ngày 10/01/2008, Hội đồng đền bù GPMB xây dựng phương án đền bù, hỗ trợ chi tiết GPMB khu công nghiệp Bảo Minh của các xã Liên Minh, Liên Bảo, Kim Thái. Phương án đã xác định diện tích thu hồi của từng hộ, đơn giá bồi thường như sau: Tiền đất là 27.000 đồng/m2, các khoản hỗ trợ là 5.000 đồng/m2, tổng cộng là 32.000 đồng/m2; các hộ gia đình có đất bị thu hồi đã đồng ý và ký nhận vào phương án. Ngày 28 và ngày 29/01/2008, Hội đồng đền bù GPMB tiến hành chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án đã ký nhận. Tất cả các hộ đều đã ký nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và ký biên bản bàn giao mặt bằng cho Hội đồng đền bù GPMB huyện Vụ Bản.

Sau khi ký nhận tiền bồi thường, hỗ trợ một số hộ dân trong đó có hộ ông Nguyễn Xuân Đương không nhất trí đã làm đơn khiếu nại về việc thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản. Ngày 26/6/2012, ông Nguyễn Xuân Đương có đơn khởi kiện vụ án hành chính và trình bày: Gia đình ông bị thu hồi 1.931m2 đất nông nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xây dựng Khu công nghiệp Bảo Minh. Ông Đương không nhất trí với các quyết định thu hồi, bồi thường hỗ trợ, giải phóng mặt bằng với các lý do:

- Khu Công nghiệp Bảo Minh là một dự án sản xuất, kinh doanh, Công ty Cổ phần đầu tư Vinatex phải trực tiếp thỏa thuận với dân về mức đền bù hỗ trợ theo quy định tại khoản 2 Điều 40 Luật đất đai năm 2003. Giá đất được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người sử dụng đất và chủ đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều 55 Luật đất đai năm 2003 nhưng UBND huyện Vụ Bản chuyển thành dự án thu hồi vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và đã ngăn cấm nhà đầu tư không được phép tự thỏa thuận với dân là không đúng với quy định của Luật đất đai.

- Không thực hiện nghiêm túc trình tự thủ tục thu hồi đất (từ Điều 49 đến Điều 59 Nghị định 84), không tổ chức cho dân học tập các tài liệu về khu công nghiệp, chỉ thông báo họp qua loa sau 2 - 3 ngày chi trả tiền, chưa có phương án đền bù hỗ trợ được cấp có thẩm quyền phê duyệt đã chi trả tiền cho dân bằng phương án dự kiến, chưa có quyết định thu hồi đất đã chi trả tiền bồi thường.

- Về phương án bồi thường hỗ trợ GPMB khu công nghiệp Bảo Minh giá đất bị thu hồi 27.000đ/m2 cộng các khoản khác mới là 35.000đ/m2 là quá rẻ mạt.

Do đó ông Đương đề nghị Tòa án tuyên hủy Quyết định thu hồi đất số 1101, 1100 và các Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB số 2790, 5272, 3734 của UBND huyện Vụ Bản và buộc UBND huyện Vụ Bản phải trả đủ đất dịch vụ là 7% cho gia đình ông. Bồi thường lỡ vụ trong 6 năm (12 vụ) 1.931m2 x 0,6kg/m x 12 vụ = 13.932 kg; trừ chi phí (giống, phân bón 50%) số thóc phải bồi hoàn quy ra tiền là (13.932 kg x 10.000đ) : 2 = 69.516.000 đồng. Bồi thường hao tổn sức khỏe và ngày công đi kiện trong 400 ngày x 50.000 đồng/ngày = 20.000.000 đồng. Bồi thường tiền xe đạp bị mất ra giữ ruộng là 1.000.000 đồng. Bồi thường phí tổn giấy tờ, đơn từ, thuê đánh máy gửi qua bưu điện là 500.000 đồng. Tổng các khoản là 91.016.000 đồng.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 57/2015/HC-ST ngày 25/12/2015, của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định căn cứ điểm a khoản 2 Điều 163 Luật tố tụng hành chính quyết định:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân Đương yêu cầu hủy Quyết định số 1001/QĐ-UBND và Quyết định số 1100/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của UBND huyện Vụ Bản “Về việc thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân” và Quyết định số 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 của UBND huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh”; Quyết định số 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 của UBND huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB bổ sung theo quyết định số 16/2008/QĐ-UBND của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên minh”; Quyết định số 3734/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 “V/v phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ cho các hộ thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp để GPMB xây dựng khu công nghiệp Bảo Minh, thuộc xã Liên Minh, huyện Vụ Bản”.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/01/2016, ông Nguyễn Đình Trọng đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Xuân Đương kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, bà Hoàng Kim Dung (con dâu ông Nguyễn Xuân Đương) và ông Nguyễn Đình Trọng vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy Quyết định số 1101 và 1100 ngày 07/4/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản và các quyết định khác có liên quan, vì cho rằng các quyết định này trái pháp luật; đồng thời đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử buộc Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản thực hiện lại việc thu hồi đất theo đúng trình tự, thủ tục và bồi thường thiệt hại về kinh tế; bồi hoàn về sức khỏe, tinh thần, công sức đi khiếu kiện và các chi phí cho gia đình ông Nguyễn Xuân Đương.

Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản có ý kiến cho rằng các quyết định gồm: Quyết định số 1101, 1100 ngày 07/4/2008 “Về việc thu hồi đất của hộ gia đình cá nhân” đối với hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đương; Quyết định số 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh”; Quyết định số 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 và Quyết định số 3734/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 về việc phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ cho các hộ dân bị thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp để giải phóng mặt bằng Khu công nghiệp Bảo Minh. Các quyết định này đều của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản được ban hành đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của ông Nguyễn Đình Trọng, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Về thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng, các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật và đơn kháng cáo của ông Nguyễn Đình Trọng là hợp lệ. Về nội dung, các Quyết định số 1101 và 1100 ngày 07/4/2008 về việc thu hồi đất của hộ gia đình cá nhân và các Quyết định số 2790; 5272 và 3734 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành có căn cứ, đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật. Mặc dù còn có những thiếu sót khi chưa thực hiện một số trình tự, thủ tục như Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: Niêm yết công khai phương án tổng thể, phương án chi tiết, hỗ trợ chưa chặt chẽ; Biên bản kết thúc niêm yết chưa có chữ ký của người đại diện bị thu hồi đất; chưa đảm bảo thời gian theo quy định; chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ khi chưa có quyết định thu hồi đất, chưa có quyết định phê duyệt phương án chi tiết bồi thường. Tuy nhiên, những thiếu sót này không ảnh hưởng đến nội dung của các quyết định hành chính và các quyết định này đảm bảo được quyền lợi của người bị thu hồi đất.

Đối với kháng cáo của ông Trọng còn cho rằng việc cưỡng chế thu hồi đất Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản nhưng không ra quyết định là không đúng; Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội cho rằng do các hộ dân (trong đó có hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đương) đều đã tự nguyện giao đất, nên Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản không cần ra quyết định cưỡng chế là đúng. Việc ông Nguyễn Đình Trọng yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản bồi thường thiệt hại về kinh tế, tổn thất tinh thần và các chi phí khác là không có căn cứ.

Từ những căn cứ trên, căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của ông Nguyễn Đình Trọng, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; thẩm tra công khai tại phiên tòa; nghe ý kiến trình bày của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, người bị kiện; quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Về thủ tục tố tụng:

Đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là Quyết định số 1101/QĐ-UBND và Quyết định số 1100/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Đương và một phần các quyết định của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, cụ thể các quyết định sau: Quyết định số 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh”; Quyết định số 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB bổ sung theo Quyết định số 16/2008/QĐ-UBND ngày 06/8/2008”; Quyết định số 3734/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 v/v phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ (phần có liên quan đến hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đương).

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân Đương, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, điểm g khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính; Điều 3 Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về việc thi hành Luật tố tụng hành chính.

 Về nội dung:

1. Xét tính hợp pháp đối với Quyết định số 1101/QĐ-UBND và Quyết định số 1100/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Đương:

 Về trình tự thủ tục ban hành quyết định: Sau khi thành lập Hội đồng đền bù GPMB, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã ra Thông báo số 31/TB-UBND ngày 13/10/2007 thông báo về chủ trương thu hồi đất GPMB thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu công nghiệp Bảo Minh tại 03 xã Liên Minh, Liên Bảo, Kim Thái. Ủy ban nhân dân xã Liên Minh đã tổ chức họp dân thông báo chủ trương thu hồi đất sau đó niêm yết quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh của xã. Hội đồng đền bù tiến hành đo vẽ, lập hồ sơ thu hồi đất (danh sách kiến điền) và lập phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ GPMB.

Ngày 28/3/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định 660/QĐ-UBND v/v thu hồi đất giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN Bảo Minh tại huyện Vụ Bản. Ngày 07/4/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã ban hành Quyết định số 1101 và 1100/QĐ-UBND thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Như vậy, trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 1101 và 1100/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản về việc thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân phù hợp với quy định của pháp luật.

Về thẩm quyền ban hành quyết định: Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 1101 và 1100/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 về việc thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 98 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003; khoản 2 Điều 44 Luật đất đai; điểm d Điều 53 Nghị định 84/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; Quyết định 660/QĐ-UBND ngày 28/3/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định v/v thu hồi đất GPMB để thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Về nội dung quyết định: Sau khi Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020”, trong đó có Dự án đầu tư xây dựng Khu công nghiệp (KCN) Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định; để thực hiện dự án, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ra Quyết định số 1101 và 1100/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 về việc thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật đất đai năm 2003. 

Hai quyết định Quyết định số 1101 và 1100/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 thu hồi đất của hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đương 1.931m2 đất thuộc thửa đất số 159 và thửa 59; tờ bản đồ số 3 tại xã Liên Minh, huyện Vụ Bản (bản đồ chỉnh lý dồn điền đổi thửa xã Liên Minh năm 2004), tuân thủ đúng pháp luật về trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Nội dung hai quyết định này đảm bảo đúng pháp luật. Tại Đơn khởi kiện, lời khai của ông Nguyễn Xuân Đương và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện diện tích đất bị thu hồi 1.931m2 là đất nông nghiệp phù hợp với diện tích và loại đất được thể hiện trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đương được cấp. Do vậy, việc Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 1101 và 1100/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 về việc thu hồi 1.931m2 đất nông nghiệp của hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đương là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

2. Xét tính hợp pháp của Quyết định số 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh”, Quyết định 3734/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 ngày của UBND huyện Vụ Bản v/v phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ; Quyết định số 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 của UBND huyện Vụ Bản về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung GPMB Khu công nghiệp Bảo Minh đối với phần có liên quan đến hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đương:

 Về trình tự, thủ tục ban hành các quyết định: Trong quá trình chuẩn bị hồ sơ địa chính cho khu đất bị thu hồi, Hội đồng đền bù GPMB huyện Vụ Bản đã tiến hành kê khai kiểm kê, xác định nguồn gốc đất đai, diện tích đất phải thu hồi. Các hộ gia đình có đất bị thu hồi đã ký xác nhận diện tích đất, loại đất bị thu hồi, nên sau khi có quyết định thu hồi đất không tiến hành kê khai lại nữa.

Sau khi lập xong phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ; ngày 19/5/2008, Phòng Tài chính Kế hoạch huyện Vụ Bản đã có Tờ trình số 17/TTr-PTC-KH trình UBND huyện Vụ Bản phê duyệt phương án chi tiết bồi thường hỗ trợ cho các hộ gia đình. Ngày 20/5/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 2790/QĐ-UBND về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh”.

Sau khi Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-UBND ngày 06/8/2008 v/v điều chỉnh mức hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Quyết định 507/QĐ-UBND ngày 12/02/2007; trên cơ sở Tờ trình số 102/TTr-TCKH ngày 27/11/2008 của Phòng Tài chính Kế hoạch, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung GPMB Khu công nghiệp Bảo Minh, trong đó có phần có liên quan đến hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đương.

Như vậy, về trình tự, thủ tục ban hành các quyết định trên phù hợp với quy định của pháp luật.

Về thẩm quyền ban hành quyết định: Việc Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008; Quyết định số 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 98 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004, Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.

Về nội dung các quyết định: Tại các Quyết định số 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 và Quyết định số 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 của UBND huyện Vụ Bản và phương án chi tiết kèm theo đã phê duyệt bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi các khoản sau:

+ Bồi thường đất nông nghiệp: Bồi thường về đất là 27.000đ/m2, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm là 5.000đ/m2 và hỗ trợ thêm 3.000đ/m2. Tổng các khoản bồi thường và hỗ trợ là 35.000đ/m2. Hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đương bị thu hồi diện tích 1.931m2 đất nông nghiệp được nhận bồi thường, hỗ trợ tổng số tiền là: 35.000đ/m2 x 1.931m2 = 67.585.000 đồng.

+ Việc áp giá đất để tính bồi thường được căn cứ vào các quy định sau:

Tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 197/NĐ-CP quy định: “Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do UBND cấp tỉnh công bố theo quy định của Chính phủ” và tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 197/NĐ-CP quy định: “Hộ gia đình cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định này”.

Trên cơ sở Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ quy định về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và Nghị định 123/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ quy định về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP; Quyết định 3194/2007/QĐ-UBND ngày 20/12/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành quy định về giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Nam Định năm 2008. Tại điểm a khoản 1 Điều 4 của Quyết định đã quy định giá đất trồng cây hàng năm tại các huyện (trong đó có huyện Vụ Bản) là 27.000đ/m2.

Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã phê duyệt giá đất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm) là 27.000 đồng/m2 để tính bồi thường cho hộ ông Nguyễn Xuân Đương như trong Quyết định 2790/QĐ-UBND là đúng với với các quy định của pháp luật.

 Về chính sách hỗ trợ đối với người có đất bị thu hồi được căn cứ vào các quy định sau: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 29, Điều 32 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ; khoản 3, 4, 5 Điều 4 Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ quy định sửa đổi bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003; Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 507/QĐ-UBND ngày 12/02/2007 quy định về chính sách hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nam Định. Căn cứ Quyết định 507/2007/QĐ-UBND, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã phê duyệt các khoản hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm là 5.000đ/m2 (thể hiện tại quyết định 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008).

Sau khi Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 16/QĐ-UBND điều chỉnh mức hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Quyết định 507/QĐ-UBND ngày 12/02/2007; Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã phê duyệt tăng các khoản hỗ trợ thêm 3.000đ/m2 (thể hiện tại Quyết định 5270/QĐ-UBND ngày 28/11/2008).

Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã phê duyệt tổng các khoản hỗ trợ là 8.000đ/m2, hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đương cũng được nhận các khoản hỗ trợ này.

Mặt khác, đối với những hộ bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp còn được giao đất dịch vụ đã có cơ sở hạ tầng với giá là 205.000đ/m2, hộ nào không nhận đất thì được nhận tiền (thể hiện tại Quyết định 3734/QĐ-UBND ngày 31/12/2010). Theo Quyết định số 868/QĐ-UBND ngày 04/5/2009 của UBND tỉnh Nam Định phê duyệt quy hoạch chi tiết khu tái định cư và khu đất dịch vụ dành cho các hộ bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp Bảo Minh, các lô đất dịch vụ được phân loại như sau: Có các lô diện tích 40m2, 60m2, 80m2, 100mtương ứng với các hộ bị thu hồi dưới 1.000m2, từ 1.000m2 đến 2.000m2, từ 2.000m2 đến 3.000m2 và trên 3.000m2. Hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Đương bị thu hồi diện tích 1.931m2 đất nông nghiệp trên tổng số diện tích đất nông nghiệp được giao (tương đương 55,08%) nên được giao 60m2 đất dịch vụ là có căn cứ.

Công ty Cổ phần đầu tư Vinatex đã hỗ trợ thêm số tiền 20.000đ/m2 đất bị thu hồi. Hộ nào chưa đến nhận thì Hội đồng đền bù GPMB huyện Vụ Bản đã gửi tiền vào tài khoản tiền gửi của Ngân hàng Agribank huyện Vụ Bản.

Từ những căn cứ nêu trên cho thấy Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành các Quyết định số 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008; Quyết định số 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008; Quyết định 3734/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định các quyết định hành chính bị khởi kiện là đúng pháp luật bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất để bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân Đương là đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, không xuất hiện tình tiết mới nên kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện không được Hội đồng xét xử chấp nhận đúng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao cũng như đề nghị của người bị kiện tại phiên tòa.

Đối với kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện cho rằng việc cưỡng chế thu hồi đất Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản là trái pháp luật vì không ra quyết định cưỡng chế. Hội đồng xét xử thấy rằng do các hộ dân (trong đó có hộ ông Đương) đều đã tự nguyện giao đất cho Nhà nước, nên Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản không ra quyết định cưỡng chế và không có việc cưỡng chế xảy ra như việc khiếu nại của ông Đương. Việc ông Nguyễn Xuân Đương và ông Nguyễn Đình Trọng (đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện) yêu cầu Tòa án buộc Uỷ ban nhân dân huyện Vụ Bản phải bồi thường cho hộ gia đình ông Đương thiệt hại về kinh tế, tổn thất tinh thần và các chi phí khác là không có cơ sở để xem xét, vì theo quy định của pháp luật tố tụng việc bồi thường thiệt hại chỉ được xem xét trong trường hợp các quyết định nêu trên của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành trái pháp luật gây ra thiệt hại thực tế cho người có đất bị thu hồi.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Xuân Đương phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên; căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính;

QUYẾT ĐỊNH

 1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Xuân Đương; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 57/2015/HC-ST ngày 25/12/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, cụ thể như sau:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân Đương yêu cầu hủy Quyết định số 1101/QĐ-UBND và Quyết định số 1100/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của UBND huyện Vụ Bản “Về việc thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân” và Quyết định số 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 của UBND huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh”; Quyết định số 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 của UBND huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB bổ sung theo Quyết định số 16/2008/QĐ-UBND của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh”; Quyết định số 3734/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 “V/v phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ cho các hộ thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp để GPMB xây dựng khu công nghiệp Bảo Minh, thuộc xã Liên Minh, huyện Vụ Bản”.

2. Ông Nguyễn Xuân Đương phải chịu 200.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm. Xác nhận ông Nguyễn Xuân Đương đã nộp 200.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số BB/2012/07443 ngày 11/01/2016 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


135
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về