Bản án 63/2017/HSST ngày 18/07/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH 

BẢN ÁN 63/2017/HSST NGÀY 18/07/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 18/7/2017 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 73/2017/HSST ngày 16/6/2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/HSST-QĐ ngày 04/7/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1995.

HKTT: Khu đô thị mới, Thị trấn Ch, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

Nơi cư trú: Khu đô thị mới, Thị trấn Ch, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ học vấn: 11/12; bố đẻ: Nguyễn Văn T, sinh năm 1970; mẹ đẻ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1969; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ: Nguyễn Diệu M, sinh năm 1996; có 01 con sinh năm 2016.

Tiền án; tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/3/2017 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 03/3/2017, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an huyện Y phối hợp với Công an thị trấn Ch đã đến khu vực trước cửa Đình làng thôn Tr, thị trấn Ch, huyện Yên P kiểm tra và thu giữ tại túi áo khoác ngoài phía trước bên phải đang của Nguyễn Văn Đ đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, Đ khai đó là ma túy “đá” mua về để sử dụng. Lực lượng công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và trưng cầu giám định đối với các hạt tinh thể màu trắng chứa trong túi nilon màu trắng.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon màu trắng chứa tinh thể màu trắng.

Tại bản kết luận số 387/KLGĐ - PC54 ngày 03/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng có khối lượng 1,8586gam là chất Methamphetamine.

Tại phiên toà, Nguyễn Văn Đ thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng và khai nhận: Đ mới sử dụng ma túy “đá” một hai lần do ham vui bạn bè nên khoảng 14 giờ ngày 03/3/2017 Đ đi xe ôm của một người không quen biết đến thôn O, xã Đ, huyện Y để mua ma túy sử dụng. Đ đang đi bộ thì gặp một người thanh niên không quen biết, khoảng hơn 20 tuổi, Đ hỏi mua ma túy và mua của người thanh niên đó 01 gói ma túy “đá” với giá 300.000đ. Đ để gói ma túy đó trong túi áo khoác ngoài phía trước bên phải, rồi đi xe ôm của người không quen biết về thôn Tr, thị trấn Ch, huyện Y tìm chỗ vắng để sử dụng ma túy. Khi đang đi bộ thì Đ gặp Mẫn Bá Đ và Mẫn Đức D là bạn bè xã hội với Đ, cả ba đang nói chuyện thì bị lực lượng công an kiểm tra phát hiện và bắt giữ tại túi áo khoác ngoài phía bên phải Đ đang mặc 01 túi nilon màu trắng đựng ma túy “đá”.

Anh Mẫn Bá Đ và anh Mẫn Đức D – Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng theo lời khai tại cơ quan điều tra (CQĐT) có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 15 giờ ngày 03/3/2017, anh Bá Đ và anh D đang ngồi chơi ở trước cổng Đình thôn Tr, thị trấn Ch thì gặp Nguyễn Văn Đ, Văn Đ đến chỗ anh Bá Đ và anh D ngồi nói chuyện phiếm, khi cả ba đang nói chuyện thì lực lượng công an tiến hành kiểm tra Văn Đ và thấy lực lượng công an thu giữ tại túi áo khoác ngoài phía trước bên phải Văn Đ đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong có các hạt tinh thể màu trắng. Văn Đ khai đó là ma túy “đá” mới mua để sử dụng. Lực lượng công an đã niêm phong túi nilon đó và đưa Văn Đạt về trụ sở giải quyết.

Tại bản cáo trạng số 72/CTr-VKS ngày 15/6/2017 của Viện trưởng VKSND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Cũng tại phiên toà hôm nay đại diện VKSND huyện Y thực hành quyền công tố tại phiên tòa khẳng định: Vào khoảng 15 giờ 10 phút ngày 03/3/2017, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi cất giữ trái phép 1,8586gam Methamphetamine để sử dụng nên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999. Nghị quyết  109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015. Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ với mức án từ 18-22 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định. Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về việc làm của mình, mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm đoàn tụ gia đình, chăm sóc gia đình

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên toà thể hiện: Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 03/3/2017 tại cổng Đình làng thôn Tr, thị trấn Ch, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi cất giữ trái phép 1,8586 gam Methamphetamine để sử dụng. Do vậy đại diện VKSND huyện Y thực hành quyền công tố tại phiên toà đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo phạm tội không phải có tổ chức và khối lượng cất giữ trái phép là 1,8586 gam Methamphetamine để sử dụng nên hành vi của bị cáo đã phạm vào khoản 1 Điều 194 BLHS. Khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 có khung hình phạt từ 02-07 năm tù nhưng theo khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Hêrôin, Côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam…”

Như vậy khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 có khung hình phạt nhẹ hơn khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999. Để đảm bảo có lợi cho bị cáo cần áp dụng BLHS năm 2015 để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Bị cáo từ trước đến nay chưa có sai phạm gì, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm p khoản 1 điều 46 BLHS nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Căn cứ tính chất của vụ án, thấy cần buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục.

* Về nguồn gốc số ma túy: Đ khai mua của người thanh niên ở thôn O, xã Đ, huyện Y nhưng không biết tên, tuổi cũng như địa chỉ cụ thể của người thanh niên này nên CQĐT không đủ căn cứ xác minh làm rõ.

Anh Mẫn Bá Đ và anh Mẫn Đức D đứng nói chuyện với Đ nhưng không biết Đ có ma túy nên CQĐT không xem xét xử lý là phù hợp.

*Về vật chứng: CQĐT thu giữ 1,8586 gam Methamphetamine, qua giám định khối lượng còn lại sau giám định là 1,1160 gam. Đây là vật liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, giá trị sử dụng không có nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 41 BLHS năm 1999. Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015. Điều 76; Điều 228; Điều 99 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Điều 26 Luật thi hành án dân sự (LTHADS). Phạt: Nguyễn Văn Đ 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 03/3/2017. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (18/7/2017) theo Quyết định tạm giam của HĐXX.

* Về vật chứng: Tịch thu 1,1160 gam Methamphetamine còn lại sau giám định để tiêu hủy.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời  hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 LTHADS thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 LTHADS. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 LTHADS.


78
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về