Bản án 63/2017/HS-ST ngày 30/11/2017 về tội chứa mại dâm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 63/2017/HS-ST NGÀY 30/11/2017 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Ngày 30 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2017/TLST-HS ngày 08 tháng11 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 66/2017/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2017, đối với bị cáo:

Nguyn Thị Kim H, sinh năm 1978, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ĐKNKTT: Ấp Bến Mương, xã Thạch Đức, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị Đ (đều đã chết); có chồng Đặng Bảo K và 04 con; bị bắt tạm giam từ ngày 17-01- 2009 đến ngày 24-01-2009 và từ ngày 24-8-2017 – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 02 năm 2008, Nguyễn Thị Kim H đến khu vực công trình thủy điện Đ thuộc thôn 9, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông mở quán bán nước giải khát. Ngày 11-01-2009, Nguyễn Thị C đến xin làm nhân viên phục vụ, biết C là gái bán dâm nhưng H vẫn đồng ý cho C ở lại quán làm nhân viên phục vụ và thỏa thuận C sẽ ăn, ở và làm nhân viên phục vụ tại quán bán nước giải khát của H, nhưng H không phải trả tiền công cho C, đồng thời sau mỗi lần C dùng phòng ngủ của H để bán dâm, C phải trả cho H 20.000 đồng.

Khoảng 15 giờ ngày 16-01-2009, Lê Tấn S đến gặp C tại quán bán nước giải khát của H, đặt vấn đề mua dâm thì C đồng ý bán dâm cho S với giá 200.000 đồng/lần. C đi vào nhà nói H ra trông quán và dẫn S vào phòng ngủ của H ở phía sau quán bán nước giải khát để thực hiện hành vi bán dâm. Đến khoảng 19 giờ ngày 17-01-2009, Lê Tấn S tiếp tục đến quán bán nước giải khát của H để mua dâm với C. Khi C đang bán dâm cho S tại phòng ngủ trong quán bán nước giải khát của H, thì bị lực lượng Công an huyện Đắk G’Long bắt quả tang.

Cáo trạng số: 65/CTr-VKS (P1) ngày 07-11-2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim H về tội “Chứa mạidâmtheo điểm c khoản 2 Điều 254 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Kim H thừa nhận hành vi như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi trình bày luận tội đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim H phạm tội “Chứa mại dâm”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 254; Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội; áp dụng khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim H từ 05 đến 06 năm tù. Biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo 200.000 đồng đã thu giữ; tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận bổ sung chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đắk Nông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2]. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào các ngày 16 và 17-01-2009, Nguyễn Thị Kim H đã đồng ý để Nguyễn Thị C 02 lần bán dâm cho Lê Tấn S tại phòng ngủ trong quán bán nước giải khát do H quản lý tọa lạc tại thôn 9, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Do đó, hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Chứa mại dâm”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 254 của Bộ luật Hình sự năm 1999, cụ thể: Khoản 2 Điều 254 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định:

“1. Người nào chứa mại dâm thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

c) Phạm tội nhiều lần;”

Tuy nhiên, tại thời điểm xét xử sơ thẩm chính sách hình sự của Nhà nước ta có sự thay đổi theo hướng có lợi đối với bị cáo, cụ thể: Khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt cao nhất là 10 năm tù. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt đối với bị cáo.

[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến đạo đức, thuần phong, mỹ tục, đời sống văn hóa, trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt và xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất quy định tại khoản 2 Điều 254 của Bộ luật Hình sự.

 [4]. Đối với Nguyễn Thị C và Lê Tấn S có hành vi mua bán dâm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk G’Long đã đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Đắk G’Long, ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với C và xử phạt hành chính đối với S theo quy định của pháp luật.

[5]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 03 cái bao cao su; tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng của bị cáo do phạm tội mà có.

[6]. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kim H phạm tội “Chứa mại dâm”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 254; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội; áp dụng khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Nguyễn Thị Kim H 05 (Năm) năm tù, tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 24-8-2017 và được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 17-01-2009 đến ngày 24-01-2009.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự; căn cứ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2.1. Tịch thu tiêu hủy 03 cái bao cao su (Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07-11-2017 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông).

2.2. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) (Theo giấy nộp tiền ngày 06-11-2017 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Đắk Nông).

3. Về án phí:  Căn cứ khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


52
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về