Bản án 63/2019/DS-ST ngày 26/06/2019 về tranh chấp bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 63/2019/DS-ST NGÀY 26/06/2019 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM

Trong ngày 26 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2019/TLST-DS ngày 14/01/2019 về tranh chấp “Bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2019/QĐST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 92/2019/QĐST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2019; Quyết định đưa vụ án ra xét xử bổ sung số 186/2019/QĐST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn H , sinh năm: 1959 (chết).

Bà Trần Thị B, sinh năm 1961(có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Văn H: Bà Trần Thị B, sinh năm 1961 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau

2. Bị đơn: Bà Tô Thị T, sinh năm: 1962(có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 12 năm 2019 và các lời khai tại tòa nguyên đơn bà Trần Thị B trình bày:

Ngày 21 tháng 9 năm 2018 bà Tô Thị T vu khống ông Trần Văn H, bà Trần Thị B, bà T chửi ông H bửa xuồng của bà T và cho rằng gia đình ông lấy tiền xương máu của ông M, ông M bị tai nạn giao thông chết (ông M là em ruột của ông H). Sự việc bà T chửi vợ chồng ông H có nhiều người biết. Ông H bà B nhiều lần giải thích cho bà T biết là ông H không có bửa xuồng của bà T và không có lấy tiền xương máu của ông M, các khoảng tiền của ông M do bà Trần Thị Đào (chị ruột của ông M) nhận cụ thể như: tiền ông M gởi cho bạn 10 chỉ vàng (khoảng 34 triệu), tiền mấy ngày lương của ông M làm trước khi chết, nhưng bà T vẫn chửi và nhiều lần xúc phạm đến gia đình bà B. Sự việc quá bức xúc nên ngày 24 tháng 9 năm 2018 ông H, bà B có đơn yêu cầu gởi đến ban hòa giải ấp Tân Lợi yêu cầu giải quyết buộc bà Tô Thị T nhận sai với ông H, bà B. Tại buổi hòa giải ngày 26 tháng 9 năm 2018 bà T không nhận sai mà còn khẳng định ông H bửa xuồng của bà T và ông H lấy tiền xương máu của ông M. Sự việc làm cho mọi người hiểu nhầm, làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của gia đình nên ông H, bà B yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời giải quyết buộc bà Tô Thị T bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm với số tiền 13.900.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn bà Tô Thị T trình bày:

Bà T thừa nhận nội dung khởi kiện của ông Trần Văn H, bà Trần Thị B nêu là đúng. Bà có nói ông H bửa xuồng của bà và gia đình ông H lấy tiền xương máu của ông Trần Văn M, nhưng bà T không đồng ý theo yêu cầu của ông Trần Văn H, bà Trần Thị B là vì bà nói đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà với ông H là do khoảng năm 2010 bà có thuê đất của ông M và sau đó bà cố đất ông M canh tác, ông H qua trồng cây trên đất bà cố của ông M dẫn đến mâu thuẫn. Ngoài ra năm 2018 chiếc xuồng bê ca của bà T đậu dưới vuông, ông H xuống bửa xuồng của bà. Đối với việc bà nói gia đình ông H lấy tiền xương máu của ông Trần Văn M là bà nghe vợ ông M là bà Võ Kim C nói lại cho bà biết (ông M bị tai nan giao thông chết năm 2018) tiền bên gây tai nạn bồi thường cho ông M bên ông H nhận, tiền lúc ông M còn sống có gởi cho bạn 10 chỉ vàng (khoảng 34 triệu) ông H cũng nhận, tiền 01 tháng lương khoảng 12.000.000 đồng của ông M làm trước khi chết vợ chồng ông H cũng nhận mà không đưa lại cho vợ ông M.

Bà Tô Thị T xác định bà nói đúng sự thật nên không đồng ý bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho ông H và bà B số tiền 13.900.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự: Vụ án từ khi thụ lý đến xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Về nội dung đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bị đơn bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho nguyên đơn 03 tháng lương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Xét về thủ tục tố tụng: Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Trần Văn Thời, nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc tranh chấp “Bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” nên Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 26 và 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình Tòa án thụ lý vụ án nguyên đơn là ông Trần Văn H bị tai nạn giao thông đã chết. Tòa án đã đưa vợ và các con của ông H tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng. Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 02 tháng 5 năm 2019 anh Trần Văn T, anh Trần Văn T, anh Trần Vũ L, anh Trần Văn Đ, chị Trần Thị Như Y, chị Trần Thị Ngọc N từ chối tham gia tố tụng; tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 12 tháng 6 năm 2019 anh Trần Văn Vũ L từ chối tham gia tố tụng nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[2] Xét về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn cho rằng bị đơn đã vu khống nguyên đơn là ông H bửa xuồng của bà T và cho rằng gia đình ông lấy tiền xương máu của ông M và bà T chửi vợ chồng ông H có nhiều người biết. Sự việc làm cho mọi người hiểu nhầm, làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nguyên đơn nên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Tô Thị T bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho nguyên đơn số tiền 13.900.000 đồng. Bà Tô Thị T thừa nhận bà có nói ông H bửa xuồng của bà và gia đình ông H lấy tiền xương máu của ông Trần Văn M. Bà T xác định là bà nói đúng nên không đồng ý bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho nguyên đơn số tiền 13.900.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn bà Tô Thị T thừa nhận bà có nói ông H bửa xuồng của bà và gia đình ông H lấy tiền xương máu của ông Trần Văn M. Bà T cũng xác định bà không nhìn thấy ông H bửa xuồng của bà và bà T nói gia đình ông H lấy tiền xương máu của ông Trần Văn M là bà nghe bà Võ Kim C nói lại. Tại phiên tòa bà T cũng thừa nhận bà Đ là người lo tổ chức đám cho ông M và là người nhận số tiền lúc ông M còn sống có gởi cho bạn 10 chỉ vàng (khoảng 34 triệu); tiền 01 tháng lương và tiền cho thêm khoảng 12.000.000 đồng. Xét thấy tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 21/3/2019 bà Trần Thị Đ trình bày: Ông M và bà C sống ly thân khoảng 06 năm nay, bà C về Long An sống, ông M đi làm thuê không biết làm thuê ở đâu. Ngày 19/4/2018 ông M bị tai nạn giao thông chết, chở về quê. Ông M không có nhà ở nên anh em trong gia đình bàn bạc thống nhất mượn nhà ông H, bà B để lo mai táng cho ông M, gia đình không có thu tiền phúng điếu. Bà C có về dự đám tang, sau khi chôn ông M thì bà C đi. Lúc ông M còn sống có gởi cho em nuôi của ông M 10 chỉ vàng 24k, đám tang ông M em nuôi của ông M có đem xuống đưa cho bà Đ 34.000.000 đồng (tương đương 10 chỉ vàng 24k). Công ty hỗ trợ 11.794.000 đồng, Bên gây tai nạn bồi thường 10.000.000 đồng. Tất cả các khoảng tiền bà Đ giữ để lo chi phí đám tang cho ông M. Sau khi chôn cất còn dư lại khoảng 30.350.000 đồng, bà Đ giao lại cho ông H để xây mồ mã và tiền công thợ cho ông M. Bà Đ xác định ông H, bà B không có hưởng khoảng tiền nào của ông M, tiền cúng tuần cho ông M ông H còn tự xuất tiền ra lo. Như vậy người trực tiếp lo chi phí đám tang cho ông M là bà Trần Thị Đ, bà Đ nhận các khoảng tiền của ông M để lo chi phí mai táng cho ông M và xây mộ cho ông M là thực tế và các bên điều thừa nhận. Như phân tích trên nguyên đơn ông Trần Văn H, bà Trần Thị B yêu cầu bị đơn bà Tô Thị T bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín b ị xâm phạm là có căn cứ. Tuy nhiên nguyên đơn không chứng minh được mức độ thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm do bị đơn gây ra nên cần chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn như vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận 03 tháng lương là phù hợp.

[3] Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 592 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị B. Buộc bị đơn là bà Tô Thị T bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho nguyên đơn số tiền là 4.170.000 đồng (Bốn triệu một trăm bảy chục nghìn đồng).

Không chấp nhận yêu cầu với số tiền 9.730.000 đồng.

Kể từ ngày nguyên đơn bà Trần Thị B có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn bà Tô Thị T không thi hành xong khoản tiền trên thì phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn bà Tô Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi h ành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


90
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về