Bản án 63/2019/HNGĐ-ST ngày 27/08/2019 về không công nhận là vợ chồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 63/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/08/2019 VỀ KHÔNG CÔNG NHẬN LÀ VỢ CHỒNG

Ngày 27 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 246/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị LH - sinh năm: 1979

Địa chỉ: Ấp 2, xã 4, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Phạm Văn H - sinh năm 1977

Địa chỉ: Ấp 5, xã 6, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai ngày 29/7/2019 nguyên đơn bà Nguyễn Thị LH trình bày được tóm tắt như sau: Bà với ông H tiến đến hôn nhân ngày 16/6/2006 đến nay đã hơn 10 năm nhưng không đăng ký kết hôn; nguyên nhân xin ly hôn do ông H không lo làm ăn, ăn chơi nhậu nhẹt về đánh đập vợ con nên bà không thể duy trì mối quan hệ hôn nhân được, bà yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết cho bà ly hôn với ông Phạm Văn H, bà có đơn đề nghị về việc không tiến hành hòa giải và đơn xin xét xử vắng mặt.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Hoàng Ph (nam) sinh ngày 23/01/2010 và Nguyễn Hoàng K (nam) sinh ngày 14/4/2015, sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Quá trình tố tụng bị đơn ông Phạm Văn H có bản tự khai đề ngày 29/7/2019 trình bày được tóm tắt như sau: Về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung và nguyên nhân mâu thuẫn giống với lời trình bày của bà LH, ông H đồng ý ly hôn và giao hai con chung cho bà LH nuôi dưỡng theo yêu cầu của bà LH và ông không cấp dưỡng nuôi con, ông H có đơn đề nghị về việc không tiến hành hòa giải và đơn xin xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Nguyên đơn; bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật; nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử là có căn cứ pháp luật. Về việc giải quyết vụ án, do bà LH và ông H không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà LH, tuyên xử không công nhận bà LH và ông H là vợ chồng. Về con chung giao cho bà LH được quyền nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng Ph (nam) sinh ngày 23/01/2010 và Nguyễn Hoàng K (nam) sinh ngày 14/4/2015; về tài sản chung và nợ chung không có nên đề nghị không xem xét; đề nghị buộc bà LH phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị LH yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Phạm Văn H nên theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

[2] Xét về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã có bản tự khai trình bày rõ, đầy đủ các nội dung và đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét về giải quyết nội vung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà LH và ông H được xây dựng trên cơ sở tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn theo luật định. Vì vậy, khi giải quyết việc ly hôn, Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình không công nhận bà LH và ông H là vợ chồng.

[3.2] Xét về con chung: Bà LH và ông H không có tranh chấp về quyền nuôi con, bà LH yêu cầu được nuôi hai con chung, ông H đồng ý với yêu cầu của bà LH cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Phúc thể hiện lời khai trong hồ sơ vụ án nên có căn cứ giao cháu Phúc và cháu Kiệt cho bà LH được quyền trực tiếp nuôi dưỡng; do bà LH không yêu cầu nên ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà LH và ông H khai thống nhất nhau không có nên không xem xét.

[4] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm buộc bà Nguyễn Thị LH phải chịu theo quy định của pháp luật.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 14, 15, 53 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị LH đối với ông Phạm Văn H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị LH và ông Phạm Văn H là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Hoàng Ph (nam) sinh ngày 23/01/2010 và Nguyễn Hoàng K (nam) sinh ngày 14/4/2015 cho bà Nguyễn Thị LH được quyền nuôi dưỡng. Dành quyền thăm nom và chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Phạm Văn H không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị LH phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà LH đã nộp tạm ứng án phí lệ phí Tòa án theo biên lai số 0021723 ngày 29/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm (bà LH đã nộp xong).

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị LH; bị đơn ông Phạm Văn H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã nơi đương sự cư trú theo quy định pháp luật.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 63/2019/HNGĐ-ST ngày 27/08/2019 về không công nhận là vợ chồng

Số hiệu:63/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành A - Hậu Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về