Bản án 64/2017/DS-ST ngày 20/09/2017 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 64/2017/DS-ST NGÀY 20/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 20 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 122/2017/TLST-DS, ngày 17 tháng 8 năm 2017 về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2017/QĐXX-ST, ngày 08 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Cái Thị Ngọc T, địa chỉ: ấp T, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

* Bị đơn: Bà Châu Thị Trúc L, địa chỉ: ấp T, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện ngày 16/8/2017, tại biên bản lấy lời khai và biên bản hòa giải cùng ngày 08/9/2017 cũng như  tại phiên tòa, nguyên đơn bà Cái Thị Ngọc T trình bày: Bà là thành viên, bà Châu Thị Trúc L là chủ hụi, bà T có tham gia góp hụi với bà L 07 dây, gồm có: 01 dây hụi ngày, 03 dây hụi tuần, 01 dây hụi 15 ngày, 02 dây hụi tháng và có mua hụi của bà L 07 dây hụi trên, bao gồm:

-  Dây  thứ  1:  Dây  hụi  ngày,  mỗi  ngày  góp  20.000  đồng,  khui  ngày 04/12/2016 âm lịch, có 150 phần, bà T tham gia 10 phần, mua 20 phần (cộng 30 phần). Bà T đã hốt chót ngày 05/5/2017âm lịch (nhằm ngày 30/6/2017), sau khi khấu trừ tiền hoa hồng cho chủ hụi 600.000 đồng. Như vậy, dây hụi này bà T đã hốt chót các dây hụi đã tham gia và các dây hụi đã mua với tổng cộng số tiền là87.740.000 đồng.

-  Dây  thứ  2:  Dây  hụi  tuần,  mỗi  tuần  góp  100.000  đồng,  khui  ngày15/6/2016 âm lịch, có 50 phần, bà T tham gia 02 phần và mua 02 phần (cộng 04 phần). Bà T đã hốt chót ngày 25/5/2017 âm lịch (nhằm ngày 19/6/2017), sau khi khấu trừ tiền hoa hồng cho chủ hụi 200.000 đồng. Như vậy, dây hụi này bà T đã hốt chót các dây hụi đã tham gia và các dây hụi đã mua với tổng cộng số tiền là18.400.000 đồng.

-  Dây  thứ  3:  Dây  hụi  tuần,  mỗi  tuần  góp  100.000  đồng,  khui  ngày05/6/2016 âm lịch, có 40 phần, bà T tham gia 02 phần. Bà T đã góp đến ngày11/5/2017 âm lịch (nhằm ngày 05/6/2017) thì hụi mãn, sau khi khấu trừ  tiền hoa hồng cho chủ hụi 100.000 đồng. Như vậy, dây hụi này bà T đã hốt chót các dây hụi đã tham gia với tổng cộng số tiền là 7.300.000 đồng.

-  Dây  thứ  4:  Dây  hụi  tuần,  mỗi  tuần  góp  200.000  đồng,  khui  ngày27/5/2016 âm lịch, có 50 phần, bà T tham gia 01 phần, mua 01 phần (cộng 02 phần). Bà T đã góp đến hụi mãn ngày 14/5/2017 âm lịch (nhằm ngày 08/6/2017), sau khi khấu trừ  tiền hoa hồng cho chủ hụi 200.000 đồng. Như vậy, dây hụi này bà T đã hốt chót các dây hụi đã tham gia và các dây hụi đã mua với tổng cộng số tiền là 18.600.000 đồng.

- Dây thứ 5: Dây hụi 15 ngày góp 300.000 đồng, khui ngày 15/03/2016 âm lịch (nhằm ngày 11/4/2017), có 36 phần, bà T tham gia 01 phần. Dây hụi này bà T đã góp được 28 kỳ với tổng số tiền vốn là 5.880.000 đồng thì hụi bể, sau khi khấu trừ  tiền hoa hồng cho chủ hụi 150.000 đồng thì bà L còn nợ bà T 5.730.000 đồng.

- Dây thứ 6: Dây hụi tháng 500.000 đồng, khui ngày 05/02/2016 âm lịch (nhằm ngày 02/03/2017), có 36 phần, bà T tham gia mua 01 phần. Dây hụi này đã góp được 16 kỳ với tổng số tiền vốn là 8.000.000 đồng thì hụi bị bể và hiện nay bà L còn nợ bà 8.000.000 đồng.

- Dây thứ 7: Dây hụi tháng 500.000 đồng, khui ngày 15/12/2016 âm lịch (nhằm ngày 12/01/2017), có 32 phần, bà T tham gia mua 01 phần. Dây hụi này đã góp được 18 kỳ với tổng số tiền vốn là 9.000.000 đồng thì hụi bị bể và hiện nay bà L còn nợ bà 9.000.000 đồng.

Các dây hụi này bà T đã góp và mua thì hiện nay bà L còn nợ bà T số tiền vốn là 154.770.000 đồng .

Nay bà T yêu cầu bà L trả cho bà số tiền hụi đã góp và mua còn nợ lại154.770.000 đồng và trả trong thời gian ngắn.

* Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải cùng ngày 08/9/2017 và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Châu Thị Trúc L thừa nhận hiện nay còn nợ bà T (hụi đã tham gia góp và mua hụi của bà L 07 dây hụi) với tổng số tiền vốn gốc là 154.770.000 đồng, nhưng xin trả hàng tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ, vì hiện nay gia đình đang gặp khó khăn không có khả năng trả 01 lần cho bà T.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa sơ thẩm có ý kiến phát biểu nhận xét về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nhìn chung đều thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 471 BLDS và Điều 29 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; xử buộc bà L trả cho bà T số tiền hụi đã tham gia góp và mua hụi là 154.770.000 đồng. Tuy nhiên, tại Toà bà T không yêu cầu tính lãi, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về nội dung vụ án: Bà Châu Thị Trúc L làm chủ hụi, bà Cái Thị Ngọc Tlà thành viên; bà T có tham gia góp hụi và mua hụi của bà L 07 dây hụi, gồm có:

* 01 dây hụi ngày 20.000 đồng, mở hụi ngày 04/12/2016 âm lịch (nhằm ngày 01/01/2017), bà T tham gia 10 phần và mua 20 phần (cộng 30 phần), có 150 phần. Dây hụi này bà T đã góp đến ngày 30/6/2017 thì hụi mãn, bà L nợ bà T tổng số tiền vốn là 87.740.000 đồng.

* 03 dây hụi tuần, bao gồm:

- 01 dây hụi tuần 100.000 đồng, mở hụi ngày 15/6/2016 âm lịch (nhằm ngày8/7/2017), bà T tham gia 02 phần và mua 02 phần (cộng 04 phần), có 50 phần. Dây hụi  này bà T  góp  hụi đến ngày 19/6/2017  thì  hụi  mãn,  bà  L  còn  nợ bà  T18.400.000 đồng vốn.

- 01 dây hụi tuần 100.000 đồng, mở hụi ngày 05/6/2016 âm lịch (nhằm ngày28/6/2017), bà T tham gia 02 phần, có 40 thành viên. Dây hụi này bà T đã đóngđến ngày 11/5/2017AL thì hụi mãn, sau khi khấu trừ tiền hoa hồng cho chủ hụi100.000 đồng thì hiện nay bà L còn nợ bà T 7.300.000 đồng vốn,

- 01 dây hụi tuần 200.000 đồng, mở hụi ngày 27/5/2016 âm lịch (nhằm ngày 21/6/2017), có 40 phần, bà T tham gia 01 phần và mua 01 phần (cộng 02 phần). Dây hụi này bà T đã đóng đến ngày 14/5/2017Al được 28 phần thì hụi bị bể, sau khi khấu tiền hoa hồng cho chủ hụi 200.000 đồng thì hiện nay bà L còn nợ bà T 18.600.000 đồng vốn.

* 01 dây hụi 15 ngày 300.000 đồng, mở ngày 15/03/2016 âm lịch (nhằm ngày 11/04/2017), có 36 phần, bà T tham gia 01 phần. Dây hụi này bà T đã đóng đến ngày 15/5/2017AL được 28 phần thì hụi mãn, sau khi khấu tiền hoa hồng cho chủ hụi 150.000 đồng thì hiện nay bà L còn nợ bà T 5.770.000 đồng vốn.

* 02 dây hụi tháng, bao gồm:

- 01 dây hụi tháng 500.000 đồng, mở hụi ngày 05/02/2016 âm lịch (nhằm ngày 02/03/2017), có 36 phần, bà T tham gia mua 01 phần. Dây hụi này bà T đã đóng đến ngày 15/5/2017 Al được 16 phần thì hụi bị bể, hiện nay bà L còn nợ bà T 8.000.000 đồng vốn.

- 01 dây hụi tuần 200.000 đồng, mở hụi ngày 15/12/2016 âm lịch (nhằm ngày 12/01/2017), có 32 phần, bà T tham gia mua 01 phần. Dây hụi này bà T góp đến ngày15/5/2017Al được 18 phần thì hụi bị bể, hiện nay bà L còn nợ bà T tiền mua hụi 9.000.000 đồng vốn.

Như vậy, sau khi tính toán thì bà L thừa nhận hiện nay còn nợ bà T  số tiền hụi đã tham gia góp và mua hụi vốn là 154.770.000 đồng.

Nay bà T yêu cầu bà L trả số tiền trên trong thời gian ngắn; phía bà L đồng ý trả cho bà T số tiền hụi gốc 154.770.000 đồng, nhưng xin trả hàng tháng là2.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án; tại biên bản lấy lời khai, hòa giải cùng ngày 08/9/2017 và tại tòa hôm nay, bà L thừa nhận còn nợ bà T tiền hụi đã góp và mua số tiền vốn là 154.770.000 đồng. Do đó, có căn cứ khẳng định bà L còn nợ bà T số tiền hụi là 154.770.000 đồng.

- Xét về hình thức, noäi dung vaø muïc ñích của hợp đồng góp hụi giữa các bên đương sự nhận thấy: Bà T và bà L là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, khi giao kết hợp đồng dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên, phù hợp với pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

- Xét về lỗi: Bà L là người có lỗi, vì đã vi phạm nghĩa vụ không giao hụi cho bà T, chính việc vi phạm nghĩa vụ của bà L đã gây thiệt thòi đến quyền lợi của  bà  T.  Do  đó,  bà  L  phải  có  nghĩa  vụ  trả  cho  bà  T  số  tiền  hụi  gốc  là154.770.000 đồng theo quy định tại Điều 471 BLDS và Điều 29 của Nghị  định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phù về họ, hụi, biêu, phường. Tuy nhiên, tại Toà bà T không yêu cầu tính lãi, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với yêu cầu của bà L cho rằng do hoàn cảnh kinh tế của gia đình  hiện nay khó khăn, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bà L trả mỗi tháng là2.000.000 đồng đến khi dứt nợ. Xét thấy, yêu cầu này của bà L không được bà T đồng ý và thuộc thẩm quyền của cơ quan Thi hành án sau này, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử buộc bà Châu Thị Trúc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.738.500 đồng; đối với bà T là người người khuyết tật nên được miễn tạm ứng án phí và án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 357, Điều 471 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ Điều 29 của Nghị định số:144/2006/NĐ-CP, ngày 27/11/2006 củaChính phủ về họ, hụi, biêu, phường;

- Căn cứ  Điều 26 khoản 2 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH, ngày30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014.

* Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cái Thị Ngọc T. Xử buộc bà ChâuThị Trúc L có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Cái Thị Ngọc T số tiền hụi vốn là154.770.000 (Một trăm năm mươi bốn ngàn bảy trăm bảy mươi ngàn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Bà Châu Thị Trúc L phải phải chịu là 7.738.500 đồng;

2.2. Bà Cái Thị Ngọc T không phải chịu án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


133
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2017/DS-ST ngày 20/09/2017 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:64/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kế Sách - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về