Bản án 64/2018/HS-ST ngày 11/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 64/2018/HS-ST NGÀY 11/10/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 11 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2018/TLST – HS ngày 07 tháng 9 năm 2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Đặng Thanh T, tên gọi khác: Lê Thị Thu T, sinh năm 1973; nơi sinh: Thành phố M; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 44/4 đường Điện Biên P, phường 15, quận T, Thành phố M; chỗ ở hiện nay: Sống lang thang; nghề nghiệp: nguyên làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hoài N đã chết và bà Đặng Thị D đã chết;

Tiền sự: Không

Tiền án: 04

- Ngày 29/5/1999, Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố M xử phạt 04 năm tù về tội “Bắt trộm trẻ em”, chưa được xóa án tích.

- Ngày 12/01/2006, Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố M xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích.

- Ngày 25/09/2006, Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố M xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 10 tháng tù về tội “Sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu cơ quan tổ chức”, chưa được xóa án tích.

- Ngày 21/09/2012, Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố M xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 15/6/2018 đến nay, có mặt.

Người bị hại: Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1992, địa chỉ: Khu phố 4, thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn Minh T2, sinh năm 1976, địa chỉ: 47/284 L, Phường 4, Quận 8, Thành phố M. (Vắng mặt)Đặng Lam S, sinh năm 1973, địa chỉ: Tổ 2, khóm T, phường Hoài T,Thành phố L, tỉnh T. (Vắng mặt)

Người làm chứng: Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1964, địa chỉ: 192/12 Quốc lộ 50, khu phố 4, thị trấn G, huyện G, tỉnh A. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 9/5/2018, Trần Đặng Thanh T là người có 04 tiền án, đã tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích, xem mục tìm việc làm trên báo Tuổi Trẻ thì thấy anh Nguyễn Văn Minh T2 đăng tin cần thuê người giúp việc nhà. Thảo gọi điện thoại cho anh T2 tự xưng mình tên T để xin việc thì anh T2 đồng ý nhận và hướng dẫn T đến làm việc tại tiệm cầm đồ K thuộc khu phố 4, thị trấn G, huyện G, tỉnh A do Nguyễn Thị Thanh T1 làm chủ. Đến sáng ngày 10/5/2018, T đi xe ôm từ Thành phố M đến tiệm cầm đồ K gặp chị T1, sau khi hai bên thỏa thuận mức lương và công việc thì T được nhận vào làm việc. Đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, chị T1đưa con gái đi học, kêu T trông coi nhà và giữ bé trai 01 tuổi. Khi chị T1 vừa chở con đi thì T lấy chùm chìa khóa đang để trên đầu tủ gỗ, đi lại tủ sắt mở ngăn trên cùng lấy trộm 04 xấp tiền gồm: 03 xấp tiền mệnh giá 500.000 đồng; 01 xấp tiền mệnh giá 100.000 đồng và mệnh giá 200.000 đồng, tổng cộng 40.000.000 đồng, rồi đi ra ngoài mang giày định trốn thoát. Ngay lúc đó, T quay lại mở ngăn tủ sắt lấy 01 giấy chứng minh nhân dân bản sao mang tên Đoàn Thị Xuân T mà T đã đưa cho chị T1trước đó, rồi đi ra ngoài đón xe ôm tẩu thoát về Thành phố M. Thảo cho anh Đặng Lam S mượn 5.000.000 đồng, số tiền còn lại T tiêu xài cá nhân.

Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giuộc tạm giữ: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy cùng số sim 0935574272; số tiền 20.000.000 đồng; số nữ trang gồm 01 sợi lắc mắt dẹp màu vàng, 01 nhẫn hạt màu trắng, 01 nhẫn được đính nhiều hạt màu trắng, 01 đôi bông tai gắn hạt trắng nhỏ bằng kim loại màu vàng; 01 đồng hồ đeo tay màu trắng hiệu Longbo do Trần Đặng Thanh T giao nộp.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Đặng Thanh T khai: Sáng ngày 10/5/2018, bị cáo có đến tiệm cầm đồ K gặp chị T1 để xin việc qua tìm hiểu trên mục tìm việc của báo Tuổi trẻ. Đến chiều cùng ngày thì chị T1 có việc ra ngoài nên bị cáo đã nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. Bị cáo lấy chìa khóa mở tủ sắt lấy 40.000.000 đồng rồi bỏ trốn về Thành phố M. Bị cáo đã rất hối hận, mong được xem xét giảm nhẹ để bị cáo làm lại cuộc đời. Hiện bị cáo đã trả được cho chị T1 20.000.000 đồng, còn lại 20.000.000 đồng sau khi ra tù bị cáo sẽ làm việc để trả cho chị T1.

Người bị hại Nguyễn Thị Thanh T1n khai: Ngày 10/5/2018, chị có nhận bị cáo T vào giúp việc nhà. Đến chiều cùng ngày do có việc ra ngoài nên chị đã giao nhà lại cho bị cáo trông coi. Tuy nhiên, sau khi về nhà thì chị không thấy bị cáo ở nhà, kiểm tra tài sản thì bị mất 40.000.000 đồng trong két sắt. Hiện nay, bị cáo đã trả cho chị được 20.000.000 đồng, chị yêu cầu bị cáo tiếp tục trả cho chị số tiền còn lại là 20.000.000 đồng, đồng thời chị cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người làm chứng Nguyễn Ngọc L khai: Chiều ngày 10/5/2018, bị cáo T đi bộ đến nhờ ông chở bị cáo đến Bến xe Quận 8, Thành phố M, lúc đó ông đang đậu xe để bắt khách ở ngã 5 Mũi Tàu, thị trấn G cách tiệm cầm đồ K khoảng vài trăm mét. Khi chở bị cáo chưa đến bến xe thì bị cáo kêu ông dừng xe ở một con kẻm, sau đó bị cáo đi vào. Một lúc sau thì bị cáo đi ra và kêu ông đi về vì có người quen chở, bị cáo có trả cho ông 200.000 đồng.

Cáo trạng số: 64/CT-VKSCG ngày 06/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Trần Đặng Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An giữ nguyên cáo trạng đã truy tố. Xét bị cáo T là người có 04 tiền án đã tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích. Năm 2012, bị cáo bị kết án về tội trộm cắp tài sản với cùng một thủ đoạn trong vụ án này là xin vào giúp việc nhà để lén lút lấy trộm tài sản của bị hại cho thấy bị cáo xem thường pháp luật nên cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc. Tuy nhiên, xét bị cáo thành khẩn khai báo, đã tự nguyện bồi thường một phần hậu quả cho bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Đặng Thanh T từ 03 năm tù đến 04 năm tù.

Vật chứng: Đã giao trả cho chủ sử hữu là phù hợp nên không xét.

Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động Samsung Galaxy cùng số sim 0935574272 để đảm bảo thi hành án.

Về dân sự: Buộc bị cáo T phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại số tiền 20.000.000 đồng.

Bị cáo T tranh luận và trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin lỗi chị Tuyền, xin cho bị cáo cơ hội làm lại cuộc đời, bị cáo đã hối hận.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án dã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cần Giuộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 10/5/2018, Trần Đặng Thanh T là người có 04 tiền án, đã tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích, lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của người khác, đã lén lút lấy trộm số tiền 40.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thanh T1 là chủ tiệm cầm đồ K thuộc khu phố 4, thị trấn G, huyện G. Sau đó, Thảo đón xe ôm tẩu thoát về Thành phố M, T cho anh Đặng Lam S mượn 5.000.000 đồng, số tiền còn lại T tiêu xài cá nhân. Hành vi nêu trên của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

 [3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đồng thời ảnh hưởng trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có nhiều tiền án về tội trộm cắp tài sản, lẽ ra khi có được công việc ổn định, được sự tin tưởng mọi người bị cáo phải ăn năn hối cải chuyên tâm với công việc hiện tại, tuy nhiên bị cáo lại nảy sinh lòng tham, muốn hưởng thụ trên công sức của người khác. Bị cáo dùng cùng một thủ đoạn với vụ án trước đây mà bị cáo đã bị xử phạt năm 2012. Cho thấ y bị cáo không có thái độ hối cải, xem thường pháp luật. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải xử lý thật nghiêm khắc để răn đe, giáo dục lần nữa đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo T đã thành khẩn khai báo đã tự nguyện bồi thường một phần hậu quả cho bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s Khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

 [4] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giuộc đã trao trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên không xét. Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động Samsung Galaxy cùng số sim 0935574272 để đảm bảo thi hành án.

 [5] Về dân sự:

Bị hại Nguyễn Thị Thanh T1 yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, yêu cầu trên là chính đáng, phù hợp nên chấp nhận. Buộc bị cáo T phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại số tiền 20.000.000 đồng.

 [6] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Đặng Thanh T phạm tội Trộm cắp tài sản”.

 [1] Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51;khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Trần Đặng Thanh T: 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, giam là ngày 15/6/2018.

 [2] Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Đặng Thanh T 45 ngày kể từ ngày 11-10-2018 để đảm bảo việc thi hành án.

 [3] Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động Samsung Galaxy cùng số sim 0935574272 để đảm bảo thi hành án.

 [4] Về dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Trần Đặng Thanh T bồi thường cho người bị hại Nguyễn Thị Thanh T1 số tiền 20.000.000 đồng.

[5] Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

[6] Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo Trần Đặng Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

 [7] Án xử sơ thẩm, bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2018/HS-ST ngày 11/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:64/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cần Giuộc - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về