Bản án 64/2018/HSST ngày 20/08/2018 về tội mua bán trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 64/2018/HSST NGÀY 20/08/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 20 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2018/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo.

Họ và tên: Sùng A L, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1954, tại Ch L, M L, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Đ, xã Ch L, huyện M L, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Sùng A X, ( đã chết) và con bà Vừ Thị C, ( đã chết), có vợ là Vừ Thị V, sinh năm 1956 và có 04 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1994, hiện nay đều cư trú tại bản Đ, xã Ch L, huyện M L, tỉnh Sơn La; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam giữ từ ngày 04 tháng 4 năm 2018, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lường Duy Tuyên, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Sơn La, vắng mặt có lý do, đã gửi bản luận cứ bào chữa và bị cáo nhất trí.

Người phiên dịch: Bà Vàng Thị Dàng. Địa chỉ: Tiểu khu 3, thị trấn Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Lò Văn Nhi. Sinh năm 1972. Địa chỉ: Bản Huổi Tóng, xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại Bản cáo trạng số 355/CT-VKSML ngày 10/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Sùng A Lử về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Vào hồi 16 giờ ngày 04/4/2018 tổ công tác Công an đồn Chiềng Lao, huyện Mường La phát hiện bắt quả tang Sùng A Lử đang có hành vi bán trái phép 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột màu trắng cho Lò Văn Nhi với số tiền 300.000 đồng tại nhà ở của Sùng A Lử ở bản Đán Én, xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Lử và Nhi đều khai nhận đó là heroine.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng chất bột màu trắng, Lử và Nhi đều khai nhận là heroine; 01 tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng.

Ngày 05/4/2018 Công an huyện Mường La tiến hành cân tịnh chất bột trong gói nilon thu giữ của Sùng A Lử có trọng lượng 0,07 gam, ký hiệu LN.

Ngày 05/4/2018 Công an huyện Mường La đã ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy đối với mẫu ký hiệu LN.

Ngày 10/4/2018 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có bản kết luận giám định số 459/KLMT, kết luận: Mẫu vật gửi giám định ký hiệu LN là chất ma túy, loại chất heroine.

Ngày 23/4/2018 Công an huyện Mường La đã ra quyết định trưng cầu giám định về tiền đối với mẫu 02 tờ tiền thu giữ.

Ngày 27/4/2018 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có bản kết luận giám định số 202, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là tiền thật.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, Sùng A Lử khai nhận: Khoảng đầu tháng 4/2018 ( không xác định được ngày) Sùng A Lử gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói heroine với giá 300.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng và ai hỏi mua sẽ bán kiếm lời. Sau khi mua được heroine Sùng A Lử mang về nhà lấy một ít ra sử dụng, số còn lại Lử gói bằng nilon màu hồng cất vào túi quần. Đến khoảng 16 giờ ngày 04/4/2018 Lử đang ở nhà tại bản Đán Én, xã Chiềng Lao, huyện Mường La thì có Lò Văn Nhi đến nhà và hỏi Lử có heroine không, do có sẵn heroine nên Lử đã đồng ý và bán cho Nhi 01 gói heroine với số tiền 300.000 đồng. Trong lúc Sùng A Lử và Lò Văn Nhi đang trao đổi, mua bán heroine thì bị tổ công tác Công an đồn Chiềng Lao, huyện Mường La phát hiện và bắt giữ.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Sùng A Lử đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Sùng A Lử phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt Sùng A Lử từ 24 đến 30 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung; phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản. 

Đối với vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì công văn của Công an huyện Mường La đã được niêm phong dán kín ( trong chứa vỏ phong bì cũ, giấy gói cũ); Tịch thu sung quỹ Nhà nước 300.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Đề nghị buộc bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại bản luận cứ bào chữa của người bào chữa cho bị cáo khẳng định bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng, pháp luật Nhà nước và một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì bị cáo là người dân tộc sống ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, và sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực sửa chữa lỗi lầm. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, tài sản không có giá trị lớn.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên tòa bị cáo Sùng A Lử thừa nhận: Ngày 04/4/2018 Sùng A Lử đã có hành vi bán trái phép 0,07 gam heroine cho Lò Văn Nhi tại nhà của bị cáo ở bản Đán Én, xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La thì bị bắt quả tang.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định vật chứng của vụ án, lời khai của người làm chứng.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Sùng A Lử đã thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 251 quy định:

“ 1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình làm là nguy hiểm cho xã hội và bản thân, nhưng do nghiện chất ma túy và hám lời bất chính nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là thuộc trường hợp nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương. Song khi lượng hình Toà cần xem xét chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, áp dụng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, vì sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do vậy Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo nghiện chất ma túy, có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, không áp dụng đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì công văn của Công an huyện Mường La đã được niêm phong dán kín ( trong chứa vỏ phong bì cũ, giấy gói cũ). Là của bị cáo dùng thực hiện tội phạm, cần tịch thu tiêu hủy.Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 300.000 đồng. Là tiền bị cáo do phạm tội mà có, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung của pháp luật.

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La; Kiểm sát viên, Người bào chữa cho bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đều hợp pháp.

Do vậy bị cáo sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Sùng A Lử, phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Sùng A Lử 24 ( hai mươi bốn) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam giữ ( ngày 04/4/2018).

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

- 01 phong bì công văn của Công an huyện Mường La đã được niêm phong dán kín ( trong chứa vỏ phong bì cũ, giấy gói cũ). Tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 300.000 đồng. Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Bị cáo Sùng A Lử phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 VNĐ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quy định chung của pháp luật.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2018/HSST ngày 20/08/2018 về tội mua bán trái phép chất ma tuý

Số hiệu:64/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường La - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về