Bản án 64/2018/HS-ST ngày 30/07/2018 về tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 64/2018/HS-ST NGÀY 30/07/2018 VỀ TỘI TỔ CHỨC CHO NGƯỜI KHÁC TRỐN ĐI NƯỚC NGOÀI TRÁI PHÉP

Ngày 30 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai Vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 352/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2018 và số 411/2018/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 08 tháng 3 năm 1971 tại HT. Nơi cư trú trước khi bỏ trốn: Số 109/33 CH, Tổ 7, Khu 1, phường DHK, quận LC, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng B và bà Trương Thị H (đều đã chết); có chồng là Nguyễn Quang D (đã chết); có 01 con; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 499/2012/HSPT ngày 14/5/2012, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Tử hình về tội «Mua bán trái phép chất ma túy» (Bản án này bị cáo phạm tội sau nhưng xét xử trước); tiền án: 01 tiền án chưa được xóa án tích (Bản án số 387/HSPT ngày 23/3/2004 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt bị cáo 06 năm tù về tội « Chứa mại dâm »; bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/4/2018; có mặt.

- Người làm chứng: Chị Hoàng Thị Thu H; chị Phạm Thị HO; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mối quan hệ quen biết từ trước giữa Nguyễn Thị Kim A và Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1985, trú tại: Số 90/48 Tôn Đức T, quận LC, thành phố Hải Phòng nên khoảng tháng 8/2006, Hà đến gặp và nhờ Kim A dẫn sang Trung Quốc để tìm việc làm, Kim A đồng ý. Sau đó, Kim A gọi điện cho Phạm Thị HO, sinh năm 1970 trú tại: Khu 5, thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình đang thuê nhà trọ tại đường Lầu Tùng Cái, Đông Hưng, Trung Quốc nói về việc cho Hà sang Trung Quốc và đến ở cùng với HO để kiếm việc làm.

Khoảng mấy ngày sau, Kim A đưa H đi ô tô khách ra Móng Cái, Quảng Ninh. Đến nơi, Kim A dẫn H đi đò vượt biên giới sang Trung Quốc, không làm thủ tục xuất cảnh, không đi qua cửa khẩu. Sang đến Trung Quốc, cả hai đi xe ôm đến nhà trọ của HO ở đường Lầu Tùng Cái, Đông Hưng, Trung Quốc. H ở lại nhà trọ của Hoa tại Trung Quốc và đi bán dâm để kiếm tiền, còn Kim A về Việt Nam.

Sau khi phạm tội Nguyễn Thị Kim A đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã. Đến ngày 09/4/2018, sau khi xác định Kim A đang bị giam giữ chờ thi hành án tại Trại tạm giam Chí Hòa thành phố Hồ Chí Minh nên đã quyết định phục hồi điều tra vụ án.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Kim A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên và khai việc đưa H sang Trung Quốc là do H nhờ, Kim A chỉ giúp H chứ không được hưởng lợi gì từ việc này.

Bản Cáo trạng số 52/CT-VKS-P2 ngày 07 tháng 6 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim A về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 349 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Kim A đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 349; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, xử phạt:

Nguyễn Thị Kim A: Từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép”. Tổng hợp hình phạt Tử hình của Bản án số 499/2012/HSPT ngày 14/5/2012, của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là Tử hình.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Kim A đồng ý và không tranh luận lại quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng; Bị cáo không có lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Vào khoảng tháng 8 năm 2006, Nguyễn Thị Kim A đã có hành vi đưa Hoàng Thị Thu H ra Móng Cái, Quảng Ninh rồi đi đò vượt biên giới trái phép sang Đông Hưng, Trung Quốc và không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Kim A đã phạm tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép" tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 349 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất nhập cảnh của Nhà nước ta nên cần phải xét xử nghiêm.

-Về tình tiết định khung hình phạt:

[4] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước khi có hiệu lực của Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo quy định thì phải bị truy tố bị cáo theo Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 275 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù; khoản 1 Điều 349 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm. Do đó, theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo cần căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và áp dụng Điều 349 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo.

[5] Bị cáo đã có hành vi đưa Hoàng Thị Thu H ra Móng Cái, Quảng Ninh rồi đi đò vượt biên giới trái phép sang Đông Hưng, Trung Quốc mà không làm các thủ tục xuất cảnh theo quy định. Hành vi của bị cáo không phạm tình tiết định khung quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này nên chỉ bị xét xử theo khoản 1 Điều 349 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Về hình phạt:

[6] Nhân thân bị cáo có 01 tiền án: Bản án số 387/HSPT ngày 23/3/2004, Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 06 năm tù về tội “Chứa mại dâm”, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; Trong thời gian bỏ trốn, bị cáo lại tiếp tục phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt tử hình. Tại phiên tòa, bị cáo khai: Sau khi xét xử phúc thẩm, bị cáo có làm đơn gửi Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam xin ân giảm án tử hình nhưng đến nay chưa có kết quả. Do bị cáo phạm tội sau, xét xử trước nên không tính là “tái phạm”; “tái phạm nguy hiểm” nhưng cần áp dụng Điều 55 và Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 để tổng hợp hình phạt của Bản án trên. Ngoài ra, bị cáo thành khẩn báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Căn cứ vào tính chất của vụ án, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy chỉ cần xét xử bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[7] Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung:

[8] Theo quy định tại khoản 4 Điều 349 Bộ luật Hình sự năm 2015, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Xét bị cáo hiện nay đang bị tạm giam, hoàn cảnh khó khăn nên miễn phạt tiền đối với bị cáo.

- Về án phí và quyền kháng cáo đối với Bản án:

[9] Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo Bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 349; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 56; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; xử phạt: Nguyễn Thị Kim A 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép”. Tổng hợp hình phạt Tử hình của Bản án số 499/2012/HSPT ngày 14/5/2012, của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là Tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim A phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.


99
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về