Bản án 65/2017/HNGĐ-ST ngày 25/08/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị O và anh H

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 65/2017/HNGĐ-ST NGÀY 25/08/2017 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP VỀ NUÔI CON

GIỮA CHỊ O VÀ ANH H

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2017, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 140/2017/TLST-HNGĐ, ngày 03/5/2017 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/7/2017. Giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị Kiều O, sinh năm 1991 (vắng mặt). Trú tại: ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Chị O có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Phan Văn H, sinh năm 1987 (vắng mặt). Trú tại: ấp T, xã T1, huyện M, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 03/5/2017 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Mai Thị Kiều O trình bày: Chị O và anh H do quen biết nhau trước nên tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2009, có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T1, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 04/9/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sinh sống ở ấp T, xã T1, thời gian hạnh phúc được khoảng vài năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mất hạnh phúc chủ yếu là do anh H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác và vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau. Do đó, chị đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống tại ấp C, xã T và đã ly thân với anh H từ tháng 6 năm 2015 đến nay. Chị O xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị xin được ly hôn với anh H. Thời gian sống chung, chị O và anh H có 01 con chung là cháu Phan Văn Hữu N, sinh ngày 18/5/2011, hiện đang sống chung với chị. Sau khi ly hôn, chị O yêu c u được trực tiếp nuôi con, không yêu c u anh H cấp dư  ng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Bị đơn anh Phan Văn H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chấp hành pháp luật tốt, bị đơn chưa chấp hành đúng pháp luật do còn vắng mặt tại các lần Tòa án mời hòa giải và xét xử.

- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014: về hôn nhân: chấp nhận yêu c u xin ly hôn của chị Mai Thị Kiều O; về con chung: chị O được trực tiếp nuôi con là cháu Phan Văn Hữu N, sinh ngày 18/5/2011, anh Phan Văn H không phải cấp dư  ng nuôi con do chị O không yêu cầu; về tài sản chung: không có nên không xem xét; về nợ chung: không có nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn chị Mai Thị Kiều O có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phan Văn H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ đến l n thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị O và anh H là phù hợp.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Mai Thị Kiều O và anh Phan Văn H trên cơ sở quen biết nhau trước nên cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2009, có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T1, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 04/9/2009. Quá trình hôn nhân của chị O và anh H tuân thủ đ y đủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[3] Sau khi kết hôn chị O và anh H có thời gian sống hạnh phúc và có với nhau 01 con chung nhưng vì những mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình mà đã dẫn đến việc chị O xin ly hôn. Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị O cho rằng: nguyên nhân mất hạnh phúc là do anh H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác và vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau; chị và anh H đã ly thân từ tháng 6 năm 2015 cho đến nay. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành mời chị O và anh H đến Tòa án nhiều l n để tiến hành hòa giải hôn nhân của anh chị nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ anh H không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ vợ chồng với chị O, hơn nữa theo chị O trình bày thì anh chị đã ly thân nhau từ tháng 6 năm 2015 và vẫn tiếp tục sống ly thân cho đến nay. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân của chị O và anh H mâu thuẫn là đã tr m trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu c u xin ly hôn của chị O là phù hợp.

[4] Về nuôi con chung: chị O và anh H có 01 con chung là cháu Phan Văn Hữu N, sinh ngày 18/5/2011, hiện đang sống chung với chị O. Sau khi ly hôn, chị O yêu c u được trực tiếp nuôi con, không yêu c u anh H cấp dư  ng nuôi con. Xét thấy, cháu N đang sống chung với chị O nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu N như: các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh th n, Hội đồng xét xử giao cháu N cho chị O được trực tiếp nuôi là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Việc chị O không yêu cầu anh H cấp dư ng nuôi con là sự tự nguyện của chị nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về tài sản chung: chị O trình bày là không có nên không xem xét. [6] Về nợ chung: chị O trình bày là không có nên không đề cập.

[7] Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

[8] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: chị O phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Thị Kiều O. Chị Mai Thị Kiều O được ly hôn với anh Phan Văn H.

Về nuôi con chung: chị Mai Thị Kiều O được trực tiếp nuôi con là Phan Văn Hữu N, sinh ngày 18/5/2011, hiện đang sống chung với chị O; anh Phan Văn H không phải cấp dư  ng nuôi con do chị O không yêu cấu. Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dư  ng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dư  ng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu c u Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dư  ng, giáo dục con. Trường hợp có yêu c u của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: chị O trình bày là không có nên không xem xét.

Về nợ chung: chị O trình bày là không có nên không đề cập.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: chị Mai Thị Kiều O phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 000xxxx ngày 03/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc nên chị không còn phải nộp thêm. Án phí sung vào công quỹ Nhà nước.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.


56
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 65/2017/HNGĐ-ST ngày 25/08/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị O và anh H

Số hiệu:65/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỏ Cày Bắc - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về