Bản án 65/2017/HSST ngày 18/08/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 65/2017/HSST NGÀY 18/08/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnhThái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2017/HSST, ngày21 tháng 7 năm 2017 đối với các bị cáo:

1.  Họ và tên: Phạm Hồng K, sinh năm: 1992

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn Hải An, xã Quỳnh Nguyên, huyệnQuỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.Quốc tịch: Việt Nam;   Dân tộc: Kinh. Trình độ học vấn:11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ Phạm Hồng Hiểu, sinh năm 1954, mẹđẻ Nguyễn Thị Lệ, sinh năm 1958. Đều trú tại thôn Hải An, xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình.Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình theo Quyết định Thi hành án số 49 ngày 07 tháng 7 năm 2017 của TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (có mặt).

2.   Họ và tên: Hoàng Đình H, sinh ngày: 07/3/1994 (Tên gọi khác: HoàngĐình Hiến)

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn Minh Khai, xã Chi Lăng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ Hoàng Đình Năm, sinh năm: 1969 và mẹ đẻ Nguyễn Thị Huế, sinh năm: 1973. Đều trú tại thôn Minh Khai, xã Chi Lăng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Tiền sự: Không.

Tiền án: Bị cáo có 04 tiền án. Tại bản số 64/2012/HSST ngày 21/8/2012, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Bản án số 85/2013/HSST ngày 19/12/2013, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà,  tỉnh  Thái  Bình  xử  phạt  01năm tù  về  tội  “Trộm cắp  tài  sản”;  Bản  án  số93/2014/HSST ngày 30/12/2014, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 38/2016/HSST /HSST ngày14/6/2016, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tùvề tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình theo Quyết định Thi hành án số 52 ngày 07 tháng 7 năm 2017 của TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (có mặt).

3. Họ và tên: Khổng Văn M, sinh ngày: 25/11/1988

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn Phương Quả Nam, xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam;  Dân tộc: Kinh. Trình độ học vấn: 12/12;   Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ Khổng Văn Cường (đã chết) và mẹ đẻ Khổng Thị Lừng, sinh năm 1959, trú tại thôn Phương Quả Nam, xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình có vợ Đoàn Thị Xuân, sinh năm1991. Bị cáo có hai con: con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình theo Quyết định Thi hành án số 50 ngày 07 tháng 7 năm 2017 của TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (có mặt).

4. Họ và tên: Trần Đức C, sinh ngày: 09/8/1984 (Tên gọi khác: Trần ĐắcCương) (có mặt).

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn Khả Tân, xã Duyên Hải, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam;  Dân tộc: Kinh. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ Trần Đắc Bộp, sinh năm 1959, trú tại thôn Khả Tân, xã Duyên Hải, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Mẹ đẻ Tiêu Thị Thới (đã chết). Có vợ Lê Thị Mai, sinh năm 1989, trú tại thôn Khả Tân, xã Duyên Hải, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Bị cáo có hai con: con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm2010. Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”

Những người bị hại:

1. Anh Nguyễn Thế S, sinh năm 1985, trú tại thôn Hà Tiến, xã Dân Chủ, huyệnHưng Hà, tỉnh Thái Bình (có mặt)

2. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1970, trú tại thôn Bổng Thôn, xã Hòa Bình huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (có mặt)

3. Anh Trần Văn Th, sinh năm 1976, trú tại thôn Mỹ Thịnh, xã Tây Đô, huyệnHưng Hà, tỉnh Thái Bình (có mặt)

4. Anh Vũ Xuân Th, sinh năm 1976, trú tại thôn Nhân Phú, xã Hùng Dũng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (có mặt)

5. Anh Nguyễn Đức Q, sinh năm 1987, thôn Đồng Hàn, xã Hồng Lĩnh, huyệnHưng Hà, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1977, trú tại thôn Phương Quả Nam, xã QuỳnhNguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1989, trú tại thôn Tân Dân, xã Bắc Sơn, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)

3. Anh Ngô Đình Dsinh năm 1985, trú tại thôn Phương Quả Nam, xã QuỳnhNguyên, huyện Quỳnh Phụ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 05/11/2016, Hoàng Đình H, sinh năm 1994, trú tại thôn Minh Khai, xã Chi Lăng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình gọi điện thoại rủ Phạm Hồng K, sinh năm 1992, trú tại thôn Hải An, xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đi trộm cắp xe máy. Kiểm đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 17N3 - 6904 đến đón Hùng. Sau đó, Hùng điều khiển xe chở Kiểm đi đến nhà anh Trần Văn Th, sinh năm 1976, trú tại thôn Mỹ Thịnh, xã Tây Đô, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Hùng nhìn thấy phía trong bếp nhà anh Thọ có dựng một chiếc xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY màu xanh, BKS17H5 - 9147 nên dừng xe. Quan sát thấy cổng mở và không có người qua lại, Hùng bảo Kiểm đứng ngoài cảnh giới và một mình đi bộ vào trong bếp trộm cắp chiếc xe trên của anh Thọ dong ra đường. Hùng lấy chìa khóa xe của Kiểm mở khóa điện chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được, nổ máy, điều khiển xe về để ở sân phía sau nhàKiểm. Khoảng bốn ngày sau (09/11/2016) Kiểm tháo biển kiểm soát của chiếc xe trên vứt tại bãi rác Cầu Đá thuộc địa phận thôn Phương Quả Nam, xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Sau đó, Kiểm gặp anh Nguyễn Văn Luân, sinh năm 1994, trú tại Tân Dân, xã Bắc Sơn, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, anh Luân nói với Kiểm: anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1989, trú tại thôn Tân Dân, xã Bắc Sơn, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đang có nhu cầu mua xe máy cũ. Anh Duẩn đến nhà Kiểm xem xe, thấy xe không có biển kiểm soát nên hỏi về nguồn gốc xe, Kiểm nói với anh Duẩn “Xe bị rơi mất biển số và mất giấy tờ”. Kiểm bán chiếc xe trên cho anh Duẩn với giá 1.900.000 đồng, quá trình bán xe, Kiểm không nói cho anh Luân và anh Duẩn biết đó là xe do Kiểm và Hùng trộm cắp mà có. Số tiền bán xe Kiểm chia cho Hùng 1.000.000 đồng, Kiểm cầm 900.000 đồng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 20 ngày 18/01/2017, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hưng Hà kết luận: tài sản tại thời điểm bị xâm hại là 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY màu sơn xanh, số khung TT-034959, số máy FMH-034959, xe đã qua sử dụng có giá trị thành tiền là 1.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 18 giờ ngày 13/11/2016,  Hoàng Đình H gọi điện thoại rủ Phạm Hồng K đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, Kiểm đồng ý. Kiểm điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SIRIUS, BKS: 17N3-6904 đến chở Hùng đi trên đường xem có ai sơ hở trong việc quản lý tài sản thì trộm cắp. Khi đến cổng nhà anh Nguyễn Thế S, sinh năm 1985, trú tại thôn Hà Tiến, xã Dân Chủ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Hùng và Kiểm nhìn thấy trong sân nhà anh Sơn có dựng một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Super Dream, BKS: 17M4 - 2713. Quan sát xung quanh không có ai, Kiểm dựng xe đứng ngoài cổng để cảnh giới, Hùng đi bộ vào trong sân nhà anh Sơn trộm cắp chiếc xe mô tô trên dong ra cổng. Do không mở được ổ khóa điện nên Hùng ngồi lên xe vừa trộm cắp được điều khiển, Kiểm dùng chân đặt vào giá để chân của xe Hùng rồi điều khiển xe của Kiểm đẩy đi. Đến địa phận xã Duyên Hải, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Kiểm và Hùng dừng lại, Kiểm lấy Cờ lê  trong cốp xe của mình tháo biển kiểm soát  của xe mô tô  vừa trộm cắp được vứt ở vệ đường cạnh ruộng. Sau đó, Kiểm gọi điện cho Trần Đức C, sinh năm1984, trú tại thôn Khả Tân, xã Duyên Hải, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình hỏi Cương: “có con xe Dream chú có mua không”, Cương đồng ý. Kiểm và Hùng mang xe đến để ở sân nhà Cương, Cương xem xe và hỏi về nguồn gốc chiếc xe nói trên, Kiểm trả lời “Xe Hùng nó vừa trộm được ở bên xã Dân Chủ, không có giấy tờ”. Mặc dù biết chiếc xe trên là tài sản do Hùng và Kiểm trộm cắp mà có nhưng ham rẻ nên Cương đồng ý mua với giá 3.800.000 đồng. Tại bản kết luận định giá tài sản số15 ngày 18/01/2017, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hưng Hà kết luận: tài sản tại thời điểm bị xâm hại là 01(Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Super Dream, màu sơn nâu, số khung 08068Y507860, số máy A08E- 1044515, xe đã qua sử dụng có giá trị thành tiền là 15.000.000 đồng.

Các bị cáo Khổng Văn M và Phạm Hồng K đã có hành vi trộm cắp 02 chiếc xe mô tô cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Chiều ngày 25/9/2016, Khổng Văn M, sinh năm 1988, trú tại thôn Phương Quả Nam, xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình gọi điện thoại rủ Phạm Hồng K đi trộm cắp xe máy bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, Kiểm đồng ý. Và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius, BKS 17N3- 6904 đến nhà đón Mạnh. Trước khi đi Mạnh bỏ 01 chiếc vam phá khóa hình chữ L, làm bằng kim loại do Mạnh tự chế vào túi quần mang theo. Kiểm điều khiển xe chở Mạnh đến đoạn đường bê tông trục cánh đồng thuộc địa phận thôn Nhân Phú, xã Hùng Dũng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Kiểm và Mạnh nhìn thấy một chiếc xe mô tô nhãn hiệu XinHa màu xanh, BKS 17H9 - 8142 của anh Vũ Xuân Th, sinh năm 1976, trú tại Nhân Phú, xã Hùng Dũng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình dựng trên đường. Quan sát thấy không có người trông coi và xung quanh không ai, Kiểm dừng xe tại vị trí cách chiếc xe mô tô trên khoảng 5 đến 7 mét, đứng cảnh giới để Mạnh dùng vam phá ổ khóa điện của chiếc xe mô tô. Khoảng 02 phút sau, Mạnh phá được ổ khóa điện, nổ máy và điều khiển xe đi về nhà, tháo Biển kiểm soát của xe vừa trộm cắp được vứt vào sọt rác ở đầu ngõ. Hai ngày sau (27/9/2016) Mạnh đã bán chiếc xe trên cho anh Ngô Đình Dsinh năm 1985, trú cùng thôn Phương Quả Nam, xã Quỳnh với giá 1.000.000 đồng. Khi bán xe cho anh Diệm, Mạnh nói đó là xe cũ của Mạnh đã bị rơi mất biển số và giấy tờ nên anh Diệm không biết đó là xe do Kiểm và Mạnh trộm cắp mà có. Số tiền bán xe Mạnh chia cho Kiểm 500.000 đồng, Mạnh cầm 500.000 đồng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 14, ngày 18/01/2017, của Hội đồng định giá tài sản huyện Hưng Hà kết luận: tài sản tại thời điểm bị xâm hại là 01(Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu XinHa, màu sơn xanh, số khung UM075814, số máy FMH-00075814, xe đã qua sử dụng có giá trị thành tiền là 2.000.000 đồng

Vụ thứ hai: khoảng 17 giờ ngày 19/11/2016, Kiểm chở Mạnh đi trên đường và nhìn thấy trước nhà anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1970, ở thôn  Bổng Thôn, xã Hòa Bình, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVE anpha, BKS: 17B4- 15364. Quan sát xung quanh không có ai, Kiểm dừng xe đứng lại cảnh giới, Mạnh đi đến chỗ để  xe dùng vam phá khóa hình chữ L, làm bằng kim loại do Mạnh tự chế phá khóa điện chiếc xe mô tô trên, nổ máy và điều khiển xe vừa trộm cắp được về nhà tháo biển kiểm soát  vứt vào sọt rác ở đầu ngõ. Ngày 22/11/2016, Mạnh đã mang chiếc xe mô tô trên đến bán cho anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1977, trú tại xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình với giá4.000.000 đồng . Khi bán xe cho anh Đợi, Mạnh nói đó là xe của một người bạn đánhbạc thua nên nhờ Mạnh bán hộ nên anh Đợi không biết nguồn gốc chiếc xe mô tô trênlà tài sản do Mạnh và Kiểm trộm cắp mà có mà có. Số tiền bán xe Mạnh chia cho Kiểm 2.000.000 đồng, Mạnh cầm 2.000.000 đồng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 17, ngày 18/01/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện Hưng Hà kết luận: tài sản tại thời điểm bị xâm hại là 01(Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVEanpha, màu sơn xanh, số khung 1211DY465609, số máy HC12E5465774, xe đã qua sử dụng có giá trị thành tiền là 7.000.000 đồng.

Bị cáo Hoàng Đình H còn một mình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại thôn Đồng Hàn, xã Hồng Lĩnh, huyện Hưng Hà: Khoảng 18 giờ ngày 09/12/2016, Hoàng Đình H đi bộ từ nhà đến xã Hồng Lĩnh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái bình mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước cửa nhà anh Nguyễn Đức Q, sinh năm 1987, trú tại thôn Đồng Hàn, xã Hồng Lĩnh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Hùng nhìn thấy  trong  sân  có  dựng  một  chiếc  xe  mô  tô  của  anh  Quyết  mang  nhãn  hiệu WORLD, sơn màu xanh, biển kiểm soát 17F2- 9760. Quan sát thấy cổng mở, không có người trông coi, chìa khóa xe vẫn cắm tại ổ khóa điện, lợi dụng sơ hở của gia đình anh Quyết trong việc quản lý tài sản, Hùng đi vào sân dong chiếc xe mô tô trên ra đường đi được khoảng hơn 100m thì dừng lại dùng chìa khóa mở khóa ổ điện, nổ máy và điều khiển chiếc xe mô tô trên đến nhà Phạm Hồng K gửi. Kiểm hỏi về nguồn gốc xe, Hùng nói “Xe mượn của ông chú, mang về nhà sợ bố chửi” nên gửi, Kiểm đồng ý cho Hùng gửi xe nên đã dong chiếc xe trên vào để ở sân sau nhà. Ngày 13/12/2016 ông Phạm Hồng Hiểu, sinh năm 1954, trú tại  trú tại thôn Hải An, xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (là bố đẻ của Kiểm) đã mang chiếc xe mô tô trên giao nộp cho Công an huyện Quỳnh Phụ để phục vụ điều tra. Tại bản kết luận định giá tài sản số 16 ngày 18/01/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hưng Hà kết luận: tài sản tại thời điểm bị xâm hại là 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu WORLD, sơn màu xanh, biển kiểm soát 17F2-9760, xe đã qua sử dụng có giá trị thành tiền là 3.200.000 đồng.

Bản cáo trạng số 65/KSĐT, ngày 19 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà đã truy tố các bị cáo Kiểm, Hùng Mạnh về tội “ Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1- Điều 138 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Cương về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1- Điều 250Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật đã nêu trong bản Cáo trạngTrong phần tranh luận đề nghị Hội đồng xét xử :

Áp dụng khoản 1 – Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p – khoản 1, khoản 2 Điều 46 Điều 33; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạtbị cáo Phạm Hồng K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 03 năm 06 tháng tù tại bản án số 39/2017/HSST ngày 31/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.

Áp dụng khoản 1 – Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p – khoản 1Điều 46 Điều 33; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Hoàng Đình H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình  sự  buộc  bị  cáo  phải  chấp  hành  hình  phạt  05  năm  tù  tại  bản  án  số39/2017/HSST ngày 31/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng năm tù.

Áp dụng khoản 1 – Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p – khoản 1Điều 46 Điều 33; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáoKhổng Văn M từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 51Bộ luật Hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 02 năm tù tại bản án số39/2017/HSST ngày 31/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 03 năm 03 tháng  đến 03 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 – Điều 250; điểm g, h, p khoản Điều 46 Điều 31 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Trần Đức C từ 9 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Buộc  các  bị  cáo  Hoàng  Đình  H,  Phạm  Hồng  K  nộp  sung  công  quỹ3.800.000 đồng là số tiền các bị cáo bán chiếc xe Supper Dream cho bị cáoCương. Kỷ phần mỗi bị cáo phải nộp lại là 1.900.0 00 đồng.

- Hình phạt bổ sung: Do các bị cáo nghề nghiệp không ổn định nên k hôngáp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 41 Bộ luật Hình sự: đề nghị Hội đồng xét xử trả lại những chiếc xe là vật chứng của vụ án cho người bị hại là chủ sở hữu các tài sản nêu trên.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là Nguyễn Đức Q, Nguyễn Thế S Nguyễn Văn K, Trần Văn Th, Vũ Xuân Th chỉ xin nhận lại chiếc xe moto là tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có và không yêu cầu bồi thường dân sự gì khác nên không đặt ra giải quyết

Đối với các anh Ngô Đình DNguyễn Văn D, Ngô Văn Đ là những người mua xe do các bị cáo trộm cắp mà có nhưng không yêu cầu các bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự về sô tiền các anh bỏ ra để mua xe nên không đặt ra giải quyết.

Các bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng các bị cáo:  Các bị cáo Mạnh, Kiểm đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo Hùng không có đề nghị gì với Hội đồng xét xử. Bị cáo Cương đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo chấp hành hình phạt “ Cải tạo không giam giữ” vì bị cáo đang là lao động chính trong gia đình và nuôi 02 con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội:

Hoàng Đình H và Phạm Hồng K đã có hành vi lén lút lấy 01 chiếc xe mô tô nhãn nhãn hiệu MAJESTY màu xanh, BKS 17H5 - 9147 của anh Trần Văn Th, sinh năm 1976, trú tại thôn Mỹ Thịnh, xã Tây Đô, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 1.000.000 đồng và trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Super Dream biển kiểm soát: 17M4 - 2713 của anh Nguyễn Thế S, sinh năm 1985, trú tại Thôn Hà Tiến, xã Dân Chủ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 15.000.000 đồng. Ngoài ra Hoàng Đình H đã trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu World, Biển kiểm soát 17F2 - 9760 của anh Nguyễn Đức Q, sinh năm 1987, trú tại thôn Đồng Hàn, xã Hồng Lĩnh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 3.200.000 đồng. Các bị cáo Khổng Văn M và Phạm Hồng K đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn nhãn hiệu XinHa màu xanh, BKS 17H9 - 8142 của anh Vũ Xuân Th, sinh năm 1976. Trú tại Nhân Phú, xã Hùng Dũng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 2.000.000 đồng và trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, biển kiểm soát 17B4  - 153.64 của anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1970, trú tại thôn Bổng Thôn, xã Hòa Bình, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 7.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản thời điểm tài sản bị xâm hại  Phạm Hồng  K trộm cắp  là25.000.000 đồng (Trong đó có hành vi trộm cắp chiếc xe Majesty được định giá là1.000.000 đồng); Hoàng Đình H trộm cắp là 19.200.000 đồng; Khổng Văn M trộm cắp là 9.000.000 đồng. Nguyễn Đức Cương, sinh năm 1984, trú tại thôn Khả Tân, xã Duyên Hải, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã có hành vi biết rõ chiếc xe SuperDream, biển kiểm soát: 17M4 - 2713 (trị giá 15.000.000 đồng) là tài sản do HoàngĐình H và Phạm Hồng K trộm cắp mà có nhưng do ham rẻ nên đã mua với giá3.800.000 đồng. Hành vi nêu trên của các bị cáo Hoàng Đình H, Phạm Hồng K và Khổng Văn M đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138  Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Đức C đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt  được quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

[3] XÐt tÝnh chÊt, møc ®é nguy hiÓm hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o: hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo Kiểm, Hùng, Mạnh đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Mục đích trộm cắp tài sản của các bị cáo là tư lợi trái pháp luật. Hành vi tiêu thụ tài sản của bị cáo Cương là do ham rẻ nhất thời phạm tội.

[4] Xét nhân thân của các bị cáo:

Bị cáo Hùng có nhân thân xấu thể hiện bị cáo có 04 tiền án. Ngày 21/8/2012, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Ngày 19/12/2013, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 01năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 30/12/2014, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày14/6/2016, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra đối với bị cáo Hùng ngày 29/3/2017 bị TAND huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản. Ngày 31/5/2017 bị TAND huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Ngày 25/10/2011, bị Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình bắt đưa vào trại giáo dưỡng.

Bị cáo Kiểm có nhân thân xấu thể hiện bị cáo có tiền án và đang chấp hành bản án số 39/2017/HSST, ngày 31/5/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Mạnh có nhân thân xấu thể hiện bị cáo có tiền án và đang chấp hành bản án số 39/2017/HSST, ngày 31/5/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm tù về tội “trộm cắp tài sản”. Ngày 20/01/2015, bị Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.

Bị cáo Cương có nhân thân tốt thể hiện bị cáo không có tiền án tiền sự, bị cáo nhất thời phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét về vai trò của từng bị cáo:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn; bản thân các bị cáo  Kiểm, Hùng, Mạnh đều là những người thực hiện tội phạm. Bị cáo Hùng và Mạnh là người khởi xướngthực hiện việc trộm cắp tài sản và cả hai bị cáo cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo Kiểm là người dùng xe máy của mình để chở các bị cáo khác đi trộm cắp tài sản và cảnh giới. Bị cáo Kiểm và Hùng thực hiện 03 hành vi phạm tội, bị cáo Mạnh thực hiện 02 hành vi phạm tội. Bị cáo Cương thực hiện tội phạm một cách độc lập. Do đó khi phân hoá vai trò đối với từng bị cáo cần xác định các bị cáo Hùng và Kiểm có vai trò ngang nhau trong vụ án, tiếp đến là bị cáo Mạnh để từ đó cá thể hoá trách nhiệm hình sự, áp dụng hình phạt đối với các bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[6] Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Phạm Hồng K, Khổng Văn M bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Hoàng Đình H bị áp dụng tính tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần, tái phạm theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự .

Bị cáo Trần Đức C không bị áp dụng tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] - Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Phạm Hồng K được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khaibáo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 và Bị cáo có thời gian phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2013 là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Hoàng Đình H, Khổng Văn M được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Trần Đức C được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn quy định tại các điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

[8]  Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 138 Bộ luật Hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Các bị cáo Kiểm, Hùng, Mạnh là lao động tự do không  có việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định đang ở cùng với gia đình. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự  quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này”. Theo các tài liệu và đơn xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Duyên Hải thì bị cáo Cương là lao động chính trong gia đình, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[9]  Đối với hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô Majesty biển kiểm soát 17H5 –9147 của anh Trần Văn Th, sinh năm 1976, trú tại thôn Mỹ Thịnh, xã Tây Đô, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình của bị cáo Phạm Hồng K. Chiếc xe trên được định giá 1.000.000 đồng. Bị cáo Phạm Hồng K là người chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt nên hành vi trộm cắp chiếc xe trên của bị cáo không cấu thành tội phạm. Cơ quan CSĐT Công an huyện Hưng Hà đã xử phạt hành chính đối với Phạm Hồng K về hành vi trộm cắp chiếc xe máy trên là đúng quy định.

[10] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu sơn trắng, số khung 2700BY839638, số máy 27E- 0968526 Biển kiểm soát: 17N3- 6904 của bà Vũ Thị Ngân, sinh năm 1958, trú tại phường Bồ Xuyên, thành phố thái Bình, tỉnh Thái Bình bị kẻ gian trộm cắp ngày 26/7/2015 là chiếc xe Kiểm cùng đồng phạm sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản ở các vụ án trên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã giao cho Công an Thành phố Thái Bình xử lý.

[11] Đối với chiếc vam phá khóa hình chữ  “L” làm bằng kim loại, có kích thước (13 x 06)cm dạng hình trụ tròn, một đầu rỗng hình lục giác và 01 mũi vam bằng kim loại màu đen, dài 06cm, một đầu hình lục giác, đầu còn lại dẹt, nhọn là chiếc vam phá khóa của bị cáo Mạnh sử dụng làm công cụ để trộm cắp tài sản đã được Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ quyết định tịch thu tiêu hủy theo bản án sơ thẩm số 39/2017/HSST ngày 31/5/2017.

[12]   Đối với những chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105, Nokia 1280, Nokia 105 mà các bị cáo Hoàng Đình H, Phạm Hồng K, Khổng Văn M sử dụng để liên lạc, rủ nhau đi trộm cắp tài sản đã được được Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ quyết định tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước theo bản án sơ thẩm số39/2017/HSST ngày 31/5/2017.

[13]  Đối với hành vi bị cáo Kiểm cho bị cáo Hùng gửi chiếc xe mô tô nhãn hiệu WORLD, màu xanh, BKS 17F2- 9760 do trộm cắp mà có tại tại nhà ở của mình. Tuy nhiên quá trình điều tra xác định khi gửi chiếc xe trên Hùng nói với Kiểm đó là xe mượn của ông chú vì sợ để ở nhà sợ bố mắng. Bị cáo Kiểm không biết không biết chiếc xe trên do Hùng trộm cắp mà có vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà không xử lý gì đối với Phạm Hồng K về tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có là đúng quy định của Pháp luật.

[14]  Đối với hành vi của các anh Ngô Đình DNguyễn Văn D, Ngô Văn Đ là những người đã mua xe do Hoàng Đình H, Phạm Hồng K, Khổng Văn M trộm cắp mà có. Quá trình điều tra xác định khi mua những chiếc xe trên họ không biết đó là tài sản do các bị can trộm cắp mà có. Vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện Hưng Hà không xử lý đối với anh Diệm, anh Duẩn và anh Đợi về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là quy định của Pháp luật.

[15]  Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là Nguyễn Đức Q, Nguyễn Thế S, Nguyễn Văn K, Trần Văn Th, Vũ Xuân Th chỉ xin nhận lại chiếc xe moto là tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có và không yêu cầu bồi thường dân sự gì khác nên không đặt ra giải quyết.

Đối với các anh Ngô Đình DNguyễn Văn D, Ngô Văn Đ là những người mua xe do các bị cáo trộm cắp mà có nhưng không yêu cầu các bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự về số tiền các anh bỏ ra để mua xe nên không đặt ra giải quyết.

Buộc các bị cáo Hoàng Đình H, Phạm Hồng K nộp sung công quỹ Nhà nước số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng). Đây là số tiền thu lời bất chính các bị cáo Hùng Kiểm đã  bán chiếc xe Supper Dream cho bị cáo Cương. Kỷ phần mỗi bị cáo phải nộp lại là 1.900.000 đồng.

[16] Về xử lý vật chứng: Cần trả lại cho các chủ sở hữu gồm:

Trả lại cho anh Nguyễn Đức Q, sinh năm 1987, trú tại thôn Đồng Hàn, xã Hồng Lĩnh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 01 xe mô tô nhãn hiệu World, gắn biển kiểm soát 17F2- 9760, xe đã qua sử dụng. Trả lại cho anh Nguyễn Thế S, sinh năm1985, trú tại Thôn Hà Tiến, xã Dân Chủ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 01 xe mô tô nhãn hiệu Super Dream màu sơn nâu không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng. Trả lại cho anh Vũ Xuân Th, sinh năm 1976, trú tại Nhân Phú, xã Hùng Dũng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 01chiếc xe mô tô nhãn nhãn hiệu XinHa màu xanh xe không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng. Trả lại cho anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1970, trú tại thôn Bổng Thôn, xã Hòa Bình, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha màu sơn xanh xe không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng. Trả lại cho anh Trần Văn Th, sinh năm 1976, trú tại thôn Mỹ Thịnh, xã Tây Đô, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 01 chiếc xe mô tô nhãn nhãn hiệu MAJESTY màu xanh  xe không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng.

[17] Về án phí hình sự: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Từ những phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội. Phân tich động cơ, mục đích phạm tội, thủ đoạn thực hiện tội phạm và nhân thân của bị cáo; các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự  thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Phạm Hồng K, Hoàng Đình H, Khổng Văn M ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, lao động cải tạo giáo dục bị cáo thành một người công dân có ích cho xã hội. Đối với bị cáo Cương không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để răn đe bị cáo và cho bị cáo có điều kiện lao động, tu dưỡng và rèn luyện bản thân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Phạm Hồng K, Hoàng Đình H (Hoàng Đình Hiến), KhổngVăn M phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Tuyên bố bị cáo Trần Đức C ( Tên gọi khác Trần Đắc Cương) phạm tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng khoản 1 – Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p – khoản 1, khoản 2 Điều 46 Điều 33; Điều 20; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt bị cáo Phạm Hồng K 02( hai) năm tù. Áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình  sự  tổng  hợp hình  phạt  03(ba)  năm  06(sáu)  tháng  tù  của  bản  án  số 39/2017/HSST ngày 31/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, buộc bị cáo Phạm Hồng K phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (Năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ( ngày 17 tháng 12 năm 2016).

Áp dụng khoản 1- Điều 138; điểm g, khoản 1 Điều 48; điểm p - khoản 1Điều 46 Điều 33; Điều 20; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt bị cáo Hoàng Đình H (Hoàng Đình Hiến) 02 (hai) năm tù. Áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 05 (Năm) năm tù của bản án số39/2017/HSST ngày 31/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, buộc bị cáo Hoàng Đình H (Hoàng Đình Hiến) phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 (bảy) năm tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 17 tháng 12 năm 2016).

Áp dụng khoản 1- Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p – khoản 1Điều 46 Điều 33; Điều 20; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt bị cáo Khổng Văn M 01(một) năm 03(ba) tháng tù. Áp dụng Điều51  Bộ  luật  Hình  sự  tổng  hợp  hình  phạt  02  (hai)  năm  tù  của  bản  án  số39/2017/HSST ngày 31/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, buộc bịcáo Khổng Văn M phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03(ba ) năm03(ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam(ngày 17 tháng 12 năm 2016).

Áp dụng khoản 1- Điều 250; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Điều 31 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt bị cáo Trần Đức C (Trần Đắc Cương) 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Trần Đức C cho Ủy ban nhân dân xã Duyên Hải, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục bị cáo. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Duyên Hải, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình nhận được quyết định thi hành bản án. Không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Trần Đức C.

Hình phạt bổ sung: không áp dụng;

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện yêu cầu của các anh Nguyễn Đức Q, Nguyễn Thế S, Nguyễn Văn K, Trần Văn Th, Vũ Xuân Th chỉ xin nhận lại chiếc xe môtô là tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có và không yêu cầu bồi thường dân sự gì khác nên không đặt ra giải quyết.

Đối với các anh Ngô Đình DNguyễn Văn D, Ngô Văn Đ là những người mua xe do các bị cáo trộm cắp mà có nhưng không yêu cầu các bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự về số tiền các anh bỏ ra để mua xe nên không đặt ra giải quyết.

Buộc  các  bị  cáo  Hoàng  Đình  H,  Phạm  Hồng  K  nộp  sung  công  quỹ3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng). Kỷ phần của bị cáo Phạm Hồng K phải nộp là 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng). Kỷ phần của bị cáo Hoàng Đình H phải nộp   là 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 41 Bộ luật Hình sự:

Trả lại cho anh Nguyễn Đức Q, sinh năm 1987, trú tại thôn Đồng Hàn, xã Hồng Lĩnh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 01 xe mô tô nhãn hiệu World, gắn biển kiểm soát 17F2- 9760, xe đã qua sử dụng. Trả lại cho anh Nguyễn Thế S, sinh năm1985, trú tại Thôn Hà Tiến, xã Dân Chủ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 01 xe mô tô nhãn hiệu Super Dream màu sơn nâu không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng. Trả lại cho anh Vũ Xuân Th, sinh năm 1976, trú tại Nhân Phú, xã Hùng Dũng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 01chiếc xe mô tô nhãn nhãn hiệu XinHa màu xanh xe không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng. Trả lại cho anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1970, trú tại thôn Bổng Thôn, xã Hòa Bình, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha màu sơn xanh xe không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng. Trả lại cho anh Trần Văn Th, sinh năm 1976, trú tại thôn Mỹ Thịnh, xã Tây Đô, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 01 chiếc xe mô tô nhãn nhãn hiệu MAJESTY màu xanh  xe không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng. (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

Về án phí: Các bị cáo Kiểm, Hùng, Mạnh, Cương, mỗi bị cáo phải chịu200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Kiểm, Hùng, Mạnh, Cương và người bị hại (anh Nguyễn Thế S, anh Trần Văn Th, anh Vũ Xuân Th, anh Nguyễn Văn K) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18 tháng 8 năm 2017). Người bị hại anh Nguyễn Đức Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.


79
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 65/2017/HSST ngày 18/08/2017 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:65/2017/HSST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hưng Hà - Thái Bình
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:18/08/2017
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về