Bản án 65/2018/HNGĐST ngày 23/11/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 65/2018/HNGĐST NGÀY 23/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 23 /11/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình thụ lý số 460/2018/TLST- HNGĐ ngày 07/8/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 05/11/2018 giữa:

Nguyên đơn: Chị Hà Thị A, sinh năm 1991.

HKTT: thôn X, xã H, thành phố B, tỉnh B ( có mặt tại phiên tòa ).

Bị đơn: Anh Nguyễn Công V, sinh năm 1991.

HKTT; thôn X, xã H, thành phố B, tỉnh B. ( có mặt tại phiên tòa ).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Hà Thị A trình bày: Chị kết hôn cùng anh Nguyễn Công V, sinh năm 1991 vào ngày 31/3/2013 trước khi kết hôn đôi bên có được tìm hiểu thỏa thuận tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố B, sau khi kết hôn chị về gia đinh anh V làm dâu, ăn chung cùng gia đình, vợ chồng sống hòa thuận đến tháng 5/2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh V không chịu làm ăn thường xuyên chơi bời nợ nần, ngoài ra anh Văn còn có quan hệ với người phụ nữ khác, vợ chồng sống ly thân từ tháng 7/2017 đến nay không ai quan tâm tới ai, nay chị A xét thấy tình cảm vợ chồng không thể đoàn tụ được xin được ly hôn anh V.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Á sinh ngày 30/11/2014, hiện nay cháu đang ở cùng anh V và chị, nay ly hôn chị A xin được nuôi cháu Á không yêu cầu anh V phải góp phí tổn nuôi con, hiện nay chị Ađang làm Công nhân tại KCN Y với mức lương là 12.000.000đ/1 tháng

Về tài sản chung: công nợ, công sức: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chứng cứ mà nguyên đơn đưa ra để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình gồm: Đơn xin ly hôn, bản chính giấy chứng nhận kết hôn; CMTND; bản sao Sổ hộ khẩu, giấy khai sinh của con ( bản sao), chị đã thực hiện việc gửi tài liệu cho bị đơn .

Về phía bị đơn là anh Nguyên Công V trình bày: anh kết hôn cùng chị Hà Thị A, sinh năm 1991 vào ngày 31/3/2013, trước khi kết hôn đôi bên có được tìm hiểu thỏa thuận tự nguyện không bị ai ép buộc, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố B, tỉnh B, sau khi kết hôn chị A về làm dâu gia đình anh luôn, vợ chồng sống hòa thuận đến tháng 7/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng không còn tình cảm, nay chị Acó đơn xin ly hôn anh V đồng ý.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 30/11/2014, hiện nay cháu đang ở cùng anh, nay ly hôn anh xin được nuôi cháu Á không yêu cầu chị Aphải góp phí tổn nuôi con cho anh. Hiện tại anh đang làm nhân viên kỹ thuật của Công ty TNHH và dịch vụ SJ tech lương khoảng 8.000.000đ/1 tháng anh đủ điều kiện để nuôi cháu.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải để các bên đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ kiện, xong giữa chị A và anh V chỉ thỏa thuận được về quan hệ vợ chồng và tài sản, công nợ, công sức, riêng về con chung chị A và anh V đều có nguyện vọng được nuôi.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật: Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn là đầy đủ.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 55, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình. Đề nghị HĐXX: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hà Thị A về việc xin ly hôn Xử:

Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Hà Thị Anh và anh Nguyễn Công Văn.

Về con chung: giao cho chị Hà Thị A nuôi cháu Nguyễn Ngọc Á , sinh ngày 30/11/2014 phí tổn nuôi con không đặt ra giải quyết.

Về tài sản, công nợ, công sức : Không có, không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Hà Thị A kết hôn cùng anh Nguyễn Công V vào ngày 31/3/2013, trước khi kết hôn đôi bên có được tìm hiểu thỏa thuận và tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố Bắc Ninh, tỉnh B là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng sống hòa thuận đến tháng 7 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là anh V không chịu làm ăn thường xuyên chơi bời, và tình cảm vợ chồng cũng không còn, nay chị A có đơn xin ly hôn anh V đồng ý, xét thấy việc tự nguyện ly hôn giữa chị Avà anh Văn là hoàn toàn tự nguyện cần được chấp nhận.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 30/11/2014, hiện nay cháu đang ở cùng anh Văn, chị Anh, nay ly hôn cả anh Văn chị A đều có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Á, xong Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay cháu Á mới 4 tuổi vẫn cần sự chăm sóc của người mẹ, mặt khác chị A lại có công ăn việc làm ổn định thu nhập hàng tháng từ 12.000.000đ đến 14.000.000đ/1 tháng, còn anh V nghề nghiệp không ổn định thu nhập lại thấp hơn chị Anh, mặt khác anh Văn lại hay chơi bời nên cần giao cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng cháu Á là phù hợp.

Về tài sản, công nợ, công sức: cả chị A và anh V đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điều 55, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình.

Căn cứ các điều 143, 144, 145, 147, 227, 235, 264, 266 và 267 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị A về việc xin ly hôn. Về quan hệ hôn nhân:

Xử: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị A và Anh Nguyễn Công V.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 30/11/2014 cho chị Hà Thị A tiếp tục nuôi dưỡng, phí tổn nuôi con không đặt ra giải quyết.

Về tài sản, công nợ, công sức: không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Hà Thị A phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2017/0004893 ngày 02/8/2018của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B. Xác nhận Chị Hà Thị A đã nộp đủ án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 65/2018/HNGĐST ngày 23/11/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:65/2018/HNGĐST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Ninh - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về