Bản án 66/2017/HNGĐST ngày 05/05/2017 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI     

BẢN ÁN 66/2017/HNGĐST NGÀY 05/05/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN         

Ngày 5  tháng 5  năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 203/2016/TLST - HNGĐ  ngày 2  thỏng 12  năm 2016 về tranh chấp ly hôn.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/ 2017/QĐST–HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn :  Chị Phạm T H sinh năm 1977

Trú tại : Singapore

Người đại diện theo ủy quyền của chị D : chị Phạm thị B N.

Bị đơn            : Anh Lê K                              sinh năm 1976

Trú tại : Quận B D– Hà Nội

Người làm chứng : Bà Trần thị T                sinh năm 1956

Trú tại : Quận T H- Thành phố Hà Nội.

Chị N , bà T cú mặt , anh K vắng mặt.Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt. 

NHẬN THẤY

Theo đơn, lời khai của chị Phạm T H thì nội dung vụ án như sau :

Chị Phạm T H và anh Lê K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện ,  có đăng ký kết hụn ngày 27/9/2002  tại UBND phường Khương Mai – Quận Thanh Xuân - Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hụn do cuộc sống khó khăn, năm 2010 chị D và con sang sinh  sống tại Singapore , vợ chồng sống xa cách nhau , không có điều kiện chăm sóc lẫn nhau , mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng , không có tiếng nói chung , sống ly thân từ 2012 đến nay , tỡnh cảm khụng cũn. Chị D đề nghị được ly hôn .

Về con chung : Chị D và anh K cú 2 con chung là : Lê Trần B C sinh ngày 22/10/2006 và Lê Trần Bảo Khanh sinh ngày 30/8/2010 . Hiện hai cháu đang ở với chị D tại Singapore, khi ly hôn chị D xin nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con .

Về tài sản và nhà ở chung : Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo Bản tự khai ngày 12/12/2016 anh Lê Ktrỡnh bày như sau :

Chị Phạm T H và anh Lê K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện ,  có đăng ký kết hụn ngày 27/9/2002  tại UBND phường Khương Mai – Quận Thanh Xuân - Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn hai vợ chồng du học tại Singapore . Đến năm 2006 anh K về nước và làm việc tại Việt Nam , chị D làm việc và kinh doanh tại Singapore. Năm 2009 anh K sang  Singapore , 2011  về nước , Tháng 6/2015 anh K về nước một mỡnh và về ở nhà bố mẹ đẻ tại ( P307,308) B D– Hà Nội cho đến nay . Lý do về nước là do công việc có nhiều bất ổn . Chị D và hai con hiện đang sinh sống tại Singapore . Thấy rằng hai vợ chồng có điểm không hiểu nhau , chưa đến mức phải ly hôn. Do vậy xin được đoàn tụ.

Về con chung : Vợ chồng có hai con chung . Nếu trường hợp phải ly hôn anh đồng ý để chị D nuôi con và hàng tháng cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đ.

Về tài sản và nhà ở chung : Anh K không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm :

Chị N trinh bày : Chị D đó cú đơn xin ly hôn , bản tự khai , đơn xin xét xử vắng mặt đề nghị Tũa ỏn xem xột nguyện vọng của chị D và giải quyết theo pháp luật.

Bà Trần thị T  trình bày : Bà T là mẹ đẻ chị D . Chị D và anh K kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính cách trái ngược nhau, hai bên không chia sẻ , quan tâm chăm sóc lẫn nhau , từ năm 2012 vợ chồng sống ly thân. hai bên gia đỡnh nhiều lần gặp gỡ anh chị để phân tích hũa giải nhưng không có kết quả . Nếu hai bên đó hết tình cảm thì đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn để mỗi người xây dựng cuộc sống mới.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có quan điểm:

Về thủ tục tố tụng : tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị D , anh K có Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt do vậy căn cứ khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự  đề nghị xét xử vắng mặt đương sự.

Về nội dung : Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ thấy rằng mâu thuẫn phát sinh từ lâu , hai bên sống ly thân  không quan tâm chăm sóc lẫn nhau , tình cảm vợ chồng khụng cũn nờn chấp nhận yờu cầu xin ly hụn của chị D . Về con chung : anh chị có 2 con chung, anh chị thống nhất với nhau về việc nuôi con nên ghi nhận . Về tài sản và nhà ở chung: anh chị không yêu cầu tòa án giải quyết nên Tòa không xét.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đó được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền : Chị Phạm T H hiện đang cư trú tại Singapore do vậy Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tiến hành giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 điều 35, điểm c khoản 1 điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự . Chị D có Đơn đề nghị  Tòa án giải quyết vắng mặt ,do vậy căn cứ vào khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự  Tòa án xét xử vắng mặt và giành quyền kháng cáo cho chị D theo quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án , ngày 4/5/2017 anh K có đơn để Tòa án giải quyết vắng mặt , do vậy căn cứ vào khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự  xét xử vắng mặt anh K và giành quyền kháng cáo cho anh K theo quy định của pháp luật.

Về nội dung  vụ án :

1/ Về tình cảm :

Chị Phạm T H và anh Lê K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện ,  có đăng ký kết hôn ngày 27/9/2002  tại UBND phường Khương Mai – Quận Thanh Xuân - Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn hai vợ chồng du học và sinh sống tại Singapore .

Theo quy định tại điều 19 Luật Hôn nhân gia đìnhvợ chồng có nghĩa vụ thương yêu , tôn trọng, quan tâm ,chăm sóc giúp đỡ nhau chia sẻ …vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau”. Theo lời thừa nhận của anh K có thời gian vợ chồng chung sống tại Singapore, có thời gian anh K về nước, và từ tháng 6/2015 đến nay anh K về nước làm việc và sinh sống , chị D ở Singapore . Căn cứ vào lời khai của các đương sự , lời khai người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện từ tháng 6/2015 đến nay anh chị sống ly thân mỗi người mỗi nơi, anh K ở Việt Nam  , chị D ở Singapore, hai bên không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không làm trũn nghĩa vụ thương yêu , chăm sóc  của người vợ , người chồng đối với nhau là vi phạm  điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình , do vậy nguyện vọng xin ly hôn của chị D  là phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân gia đình , nên được chấp nhận. Anh K cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức phải ly hôn nhưng từ tháng 6/2015 đến nay đó gần 2 năm , anh K không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm , hai bên vẫn tiếp tục không chung sống cùng nhau do vậy yêu cầu xin đoàn tụ của anh K không có căn cứ để chấp nhận.

2/ Về con chung : Chị D và anh K cú 2 con chung là : Lê Trần B C sinh ngày 22/10/2006 và Lê Trần Bảo Khanh sinh ngày 30/8/2010 . Hiện hai cháu đang học tập và sinh sống  với chị D tại Singapore. Chị D và anh K cựng thống nhất giao cả hai con cho chị D nuôi ,xét thấy nguyện vọng của anh chị phù hợp với nguyện vọng của các cháu nên chấp nhận . Anh K tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đ/tháng , xét sự tự nguyện của anh K phù hợp điều 81,82 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

3/ Về tài sản và nhà ở chung : Chị D , anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét.

4/ Về án phí : Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

Từ những nhận định trên !

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 28, khoản 3 điều 35, điểm c khoản 1 điều 37 , khoản 4 điều 147, khoản 1 điều 228, điều 271,273 , khoản 2 điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự .

Căn cứ điều 56 , 81,82 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 8 điều 27 Pháp lệnh về án phí lệ phí Tòa án. Xử :

1/ Chấp nhận yờu cầu xin ly hôn của chị Phạm T H.

Chị Phạm T H được ly hôn  anh Lê K .

2/ Về con chung : Chị D và anh K cú 2 con chung là : Lê Trần Bảo Châu sinh ngày 22/10/2006 và Lê Trần Bảo Khanh sinh ngày 30/8/2010. Ghi nhận sự thống nhất của chị D và anh K, giao cả 2 con chung cho chị D nuôi dưỡng , hàng tháng anh K cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đ , việc cấp dưỡng kể từ tháng 5/2017 cho đến khi con chung trưởng thành hoặc có quyết định khác thay thế .

Anh K  có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

3/ Về tài sản và nhà ở chung : Chị D , anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xem xét. 

4/ Về án phi : Chị D  phải  chịu 200.000đ  án phí ly hôn sơ thẩm , được trừ vào số tiền tạm ứng án phí  đó nộp tại biên lai số 9871 ngày 28/11/2016  tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội .

Anh Lê K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ  nhận được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật.

Chị  Phạm thị T H có quyền kháng cáo trong hạn 01 thỏng  kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật.


919
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 66/2017/HNGĐST ngày 05/05/2017 về tranh chấp ly hôn

    Số hiệu:66/2017/HNGĐST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:05/05/2017
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về