Bản án 66/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 66/2018/HS-ST NGÀY 30/11/2018 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Hôm nay ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 63/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo: 

Phạm Văn Q, sinh năm: 1987, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Cao đài; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Trần Thị H; có vợ: Trịnh Thị Hồng T và01 con; tiền sự: không có; tiền án: không có; bị bắt tạm giam từ ngày 09-10-2018 cho đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bùi Khắc Q, sinh ngày 23-10- 1992; địa chỉ: ấp 3, xã H, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 13-7-2018, tại Trạm kiểm soát L thuộc ấp L,xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Đồn  biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài phát hiện Phạm Văn Q điều khiển xe mô tô biển số 59P2-562.17 chở Võ Văn T xuất cảnh trái phép sang Campuchia có dấu hiệu nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra Q, T không xuất trình được giấy tờ xe nên Đồn biên phòng Cửa khẩu Quốc tê Mộc Bài lập biên bản vi phạm hành chính. Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên ngày 14-7-2018, Đồn biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Tây Ninh giải quyết theo thẩm quyền.

Qua điều tra, Q và T khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 13-7-2018, người tên V (không rõ lai lịch) điện thoại cho Nguyễn Thị Bé T (chị họ T) chở T đến nhà trọ V thuê tại ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh có việc, T đồng ý nên chở T đến điểm hẹn. Sau đó, V điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở T đến chân cầu vượt thuộc xã G, huyện T, tỉnh Tây Ninh gặp người tên T (không rõ lai lịch) nhận xe mô tô biển số 59P2-562.17, loại Airblade do trộm cắp mà có giao cho T đem sang Campuchia tiêu thụ, V nói với T liên lạc với Q cùng đi, T đồng ý. Khi T vừa điều khiển xe đi thì V điện thoại nói cho Q biết có xe vừa trộm được giao cho T đi tiêu thụ và kêu Q cùng đi với T, Q đồng ý và nhờ vợ là Trịnh Thị Hồng T chở đến ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh chờ T. Khi T đến nơi thì gặp Q và cả hai đem xe mô tô biển số 59P2-562.17 sang Campuchia tiêu thụ. Đến trạm kiểm soát L thuộc ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì bị kiểm tra phát hiện. Qua xác minh, xe mô tô trên là của anh Bùi Khắc Q bị mất trộm vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 13-7-2018 tại Thành phố Hồ Chí Minh, xe có biển số thật là60B9-284.60.

 Quá trình điều tra, T khai nhận còn thực hiện 02 vụ tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cùng Q, cụ thể:

- Vụ thứ nhất: ngày 11-7-2018, V giao cho T điều khiển xe mô tô (không rõ biển số), loại wave alpha đến ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh giao cho Q điều khiển sang Campuchia bán được 10.000.000 đồng.

- Vụ thứ hai: ngày 12-7-2018, V giao cho T điều khiển xe mô tô (không rõ biển số), loại Future đến ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh giao cho Q điều khiển sang Campuchia bán được 11.000.000 đồng. 

Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG, ngày 24-7-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Tây Ninh kết luận: xe mô tô gắn biển số giả 59P2-562.17 (biển số thật 60B9-284.60), loại Airblade có giá trị 16.000.000 đồng;

Kết luận giám định số 826/KL-KTHS ngày 23-7-2018 của Phòng Kỹthuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết  luận: xe mô tô gắn biển số giả 59P2- 562.17 (biển số thật 60B9-284.60), loại Airblade, số khung và số máy không bị đục sửa.

Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: xe mô tô gắn biển số giả 59P2- 562.17 (biển số thật 60B9-284.60), loại Airblade đã trả chủ sở hữu. Biển số giả 59P2-562.17 đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Tây Ninh chờ xử lý.

Về bồi thường thiệt hại: Không.

Về kê biên tài sản: Phạm Văn Q không có tài sản, nên không kê biên.

Đối với hành vi của Võ Văn T thưc hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, nên Công an huyện B, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt vi phạm hành chính.

Người tên V, tên T không rõ lai lịch nên chưa làm việc được, khi nào làm việc được xử lý sau. Đối với Nguyễn Thị Bé T, Trịnh Thị Hồng T do không biết việc người tên V giao tài sản do người khác phạm tội mà có cho T, Q mang đitiêu thụ, nên không xử lý.

Đối với 02 vụ tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có vào ngày 11- 7-2018 và ngày 12-7-2018, do không truy tìm được vật chứng và người bị hạinên không đủ cơ sở xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo, vật chứng bị thu giữ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho người bị hại, như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Bản cáo trạng số: 69/CT-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố Phạm văn Q về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 323; các điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Từ các căn cứ trên, đề nghị xử phạt Phạm Văn Q từ 01 năm 06tháng đến 02 năm tù. Miễn hình  phạt bổ sung cho bị cáo.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều Điều 46 và 47 của Bộ luật Hình sự;

Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: xe mô tô gắn biển số giả 59P2- 562.17 (biển số thật 60B9-284.60), loại Airblade đã trả chủ sở hữu. Biển số giả59P2-562.17 đã chuyển Chi  cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Tây Ninh chờ xử lý.

Bị cáo Q nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt mức án thấp nhất do Viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện:

Khoảng 14 giờ ngày 13-7-2018, trạm kiểm soát L thuộc ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Đồn biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài phát hiện Phạm Văn Q điều khiển xe mô tô biển số 59P2-562.17 chở Võ Văn T xuất cảnh trái phép sang Campuchia có dấu hiệu nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra Q, T không xuất trình được giấy tờ xe nên Đồn biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài lập biên bản vi phạm hành chính. Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên ngày 14-7-2018, Đồn biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Tây Ninh giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, T khai nhận còn thực hiện 02 vụ tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cùng Q, cụ thể:

- Vụ thứ nhất: ngày 11-7-2018, Vũ giao cho T điều khiển xe mô tô (không rõ biển số), loại wave alpha đến ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh giao cho Q điều khiển sang Campuchia bán được 10.000.000 đồng.

- Vụ thứ hai: ngày 12-7-2018, Vũ giao cho T điều khiển xe mô tô (không rõ biển số), loại Future đến ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh giao cho Q điều khiển sang Campuchia bán được 11.000.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG, ngày 24-7-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Tây Ninh kết luận: xe mô tô gắn biển số giả 59P2-562.17 (biển số thật 60B9-284.60), loại Airblade có giá trị 16.000.000 đồng;

Kết luận giám định số 826/KL-KTHS ngày 23-7-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: xe mô tô gắn biển số giả 59P2- 562.17 (biển số thật 60B9-284.60), loại Airblade, số khung và số máy không bị đục sửa.

Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận Phạm Văn Q phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.

[3] Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng: Hành vi của bị cáo Q là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, tiêu thụ tài sản của các đối tượng phạm tội, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo Q có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật. Chỉ vì mục đích lợi nhuận, thu nhập bất chính, lười lao động mà bị cáo đã tiếp tay cho các đối tượngphạm tội, tiêu thụ tài sản do người khác phạm  tội mà có. Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo Q về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ, đúng pháp luật. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi đối với bị cáo mới có tính răn đe, giáo dục và phòng chống tội phạm.

Trong quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với bị cáo:

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Những tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại các điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 323 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy,

Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với hành vi của Võ Văn T thưc hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, nên Công an huyện B, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với 02 vụ tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có vào ngày 11- 7-2018 và ngày 12-7-2018, do không truy tìm được vật chứng và người bị hại, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện B không đủ cơ sở xử lý, nên không đặt ra giải quyết.

[4] Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự.Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: xe mô tô gắn biển số giả 59P2- 562.17 (biển số thật 60B9-284.60), loại Airblade đã trả chủ sở hữu, nên không đặt ra giải quyết.

Tịch thu tiêu hủy biển số giả 59P2-562.17 là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo Q.

[5] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Q phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 323; các điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Q phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Phạt bị cáo Phạm Văn Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09-10-2018.

2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy biển số giả 59P2-562.17.

3. Án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bịcáo Phạm Văn Q phải chịu 200.000  (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


56
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 66/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

    Số hiệu:66/2018/HS-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bến Cầu - Tây Ninh
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:30/11/2018
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về